
Nghiệp có thể chuyển được chăng?
Con người từ trong quá khứ đă tạo biết bao Nghiệp Báo, mà cứ
mỗi nghiệp chính là một nét vẽ, một vết mực điểm tô dần dần để hoàn thành bức
tranh cho cuộc đời của họ ở đời sau. Một lời nói thiện vừa thốt ra th́ lập tức
một niềm vui đă h́nh thành và ngược lại, một hành vi ác vừa thực hiện xong th́
Luật Nghiệp Quả vô h́nh cũng lập tức kiến tạo một nỗi khổ để sắp đặt cho họ phải
thọ lănh ở đời sau. Do đó bao nhiêu hạnh phúc, khổ đau, cay đắng hay vinh quang
đều đă được h́nh thành xong từ kiếp trước.
Như vậy khi con người vừa mới kết tinh vào noăn bào của người mẹ th́ hài nhi đă
cưu mang một định mệnh do chính nó tạo ra từ kiếp trước. Vâng, cái định mệnh vô
h́nh nầy sẽ quyết định mọi thưởng phạt cho cuộc đời của nó khi nó lớn lên. Nhưng
đây là một định mệnh không do thần linh áp đặt mà do chính nó tự tạo lấy cho
ḿnh. Vậy con người có thể thay đổi được cái định mệnh nầy không?
Hay là với những nghiệp đă h́nh thành, con người bị sức mạnh của nghiệp
cuốn trôi khó mà chống lại?
Để trả lời nghi vấn nầy, trong kinh A Hàm, Phật có dạy:
-
Người gây nhân
bất thiện, dù đời trước hay sau, nếu họ biết tu tâm, tu thân và tu giới th́ quả
sẽ đổi thay. C̣n nếu người gây nhân bất thiện mà không biết tu tâm, tu thân và
tu giới th́ gây nhân nào sẽ thọ quả nấy. Đó là nhân nào quả nấy và nếu gây nhân
mà biết chuyển nghiệp th́ quả cũng đổi thay.
Chính Đức Phật đă cho chúng
ta một nhận định rơ ràng về cuộc sống để chúng ta không c̣n bận tâm về sự may
rủi thành bại trong đời. Nhưng làm thế nào để chuyển nghiệp?
Tâm
hồn của chúng ta đă tích lũy biết bao khuynh hướng vị kỷ, tham lam, thù hận, đố
kỵ, hơn thua…từ bao nhiêu đời bao nhiêu kiếp. V́ chúng nó là Ư nghiệp của đời
quá khứ nên đời hiện tại tất cả những khuynh hướng bất thiện nầy thúc đẩy chúng
ta tiếp tục tạo tác những hành vi bất thiện để đưa chúng ta măi măi vào con
đường tối tăm tội lỗi. Vậy muốn chuyển
nghiệp chúng ta phải cố gắng chuyển hóa nội tâm của ḿnh trước đă, rồi hành động
và hoàn cảnh sẽ dần dần thay đổi theo sau.
Trong
xă hội có nhiều người nhận thấy cuộc đời của họ không được may mắn, khổ nhiều
hơn vui và thường gặp cảnh trái ư nghịch ḷng. V́ tin sâu vào luật Nghiệp Quả
nên họ công nhận rằng trong đời quá khứ họ ít làm việc phước
mà tạo quá nhiều nghiệp bất thiện. V́ khao khát muốn chuyển nghiệp, họ đi
chùa cầu nguyện sự gia bị của thần thánh. Họ cúng dường một mà muốn hưởng phước
đức tới mười. Họ cũng chịu khó làm những việc
thiện khác, nhưng nội tâm tham lam,
ích kỷ vẫn c̣n nguyên vẹn. Đối với họ th́ làm việc thiện v́ muốn quả báo tốt cho
chính họ chứ không phải t́nh thương chân thật đối với con người. Chính họ đă xây
lâu đài phước thiện trên băi cát v́ nó không xuất phát từ nội tâm thuần thiện
nào cả. Theo luật Nghiệp Quả th́ đời sau họ sẽ gặp nhiều may mắn, nhưng trong họ
bản chất tham lam, ích kỷ vẫn c̣n và chính bản chất tham lam ích kỷ nầy sẽ thúc
đẩy họ làm các việc bất thiện khác.
Vậy
tu tâm hay chuyển hóa nội tâm là cố gắng loại bỏ cho được ḷng tham lam, tính
sân hận và tật si mê…Tham th́ có nội tham như tham ăn, tham uống, tham mặc, tham
sống lâu…và ngoại tham như tham tiền, tham sắc, tham danh, tham lợi…Ăn th́ lúc
nào cũng muốn ăn ngon, ăn no đủ, c̣n ngủ th́ phải ngủ cho đủ giấc, hay nệm ấm
gường êm… Ai đụng đến chút tự ái là nổi điên và hễ thấy vật đẹp, cao quư th́
muốn chiếm lấy. Đây là tâm trạng chung của con người v́ tham, sân, si đă ăn sâu
vào trong tiềm thức của chúng ta từ bao nhiêu đời bao nhiêu kiếp. Do đó chuyển
hóa nội tâm là phải can đảm từ bỏ cho được tham, sân, si để tâm được sáng suốt.
Một khi tâm được sáng suốt th́ thân khẩu ư trở thành thanh tịnh và dĩ nhiên con
người sẽ không c̣n tạo nghiệp nữa.
Phật
dạy tu thân là thân nầy không làm điều ác dù lớn hay nhỏ đều phải tránh xa. C̣n
điều thiện th́ phải cố gắng hoàn thành. C̣n tu giới là người Phật tử phải giữ
tṛn ngũ giới, đó là không được sát sanh, không được trộm cướp, không được vọng
ngữ, không được uống rượu và không được tà dâm. Tuy nói tu tâm, tu thân và tu
giới nhưng chủ yếu vẫn là tu tâm. Nếu chúng sinh tu tâm được viên măn th́ mọi
nghiệp chướng không c̣n do đó nghiệp khổ sẽ chấm dứt và cuộc đời sẽ được an vui
tự tai.
Đức
Phật dạy nguyên nhân của mọi đau khổ là vô minh và ái dục, hay nói một cách khác
chính ḷng tham lam, sân hận, si mê là nguồn gốc của mọi tranh chấp, oan trái để
rồi đem đến những sự lo âu sầu muộn và bất măn. Con đường chuyển hóa nội tâm
thiết thực là chúng ta phải biết giữ ḿnh theo
Giới, Định, Huệ để có thể diệt
trừ tham, sân, si th́ đời sống sẽ được tự tại bởi v́ tham th́ có thể phá
giới, sân th́ có thể phá định, c̣n si th́ có thể phá tuệ.
Một
số người nói rằng điều kiện của một đời sống hạnh phúc là có sức khỏe, có tiền
tài và có địa vị trong xă hội, nhưng một đời sống hạnh phúc chân thật chưa chắc
đă hoàn toàn dựa vào những điều kiện vật chất như thế. Chẳng hạn như một người
mạnh khỏe lại dùng sức mạnh của ḿnh làm những điều tội lỗi th́ chẳng được ích
lợi ǵ. C̣n người giàu sang mà sống bỏn xẻn, ích kỷ, tham lam vô độ th́ chính họ
chẳng t́m được hạnh phúc cho chính ḿnh mà c̣n làm hại đến kẻ khác. Người có địa
vị lại lạm dụng quyền hành th́ chỉ rước thêm oan trái oán thù mà thôi. Như thế
th́ tiền tài danh vọng chưa phải là yếu tố chính cho một đời sống hạnh phúc mà
điều kiện tiên quyết để đem lại an vui là phải có tinh thần sáng suốt và lành
mạnh. Được tinh thần sáng suốt lành mạnh nầy th́ sẽ không c̣n bị dục lạc, oán
thù hay mê loạn chi phối. V́ thế Phật lại dạy rằng:
-
Người tùy theo thế t́nh thức là chạy theo tham cầu danh vọng. Khi được
công danh hiển đạt, th́ thân thể đă già yếu. Kẻ tham danh lợi ở đời mà không lo
học đạo th́ chỉ uổng công nhọc xác mà thôi. Ví như cây hương đốt, khi được người
ta ngửi thấy mùi thơm th́ thân hương đă hóa thành tro bụi, v́ lửa nung đốt cháy
liền thân hương vậy.
Mặc
dù tôn chỉ của đạo Phật là giúp chúng sinh chứng ngộ Niết Bàn, nhưng phát huy
ḷng từ bi, có nghĩa là đem vui cứu
khổ, vẫn là cứu cánh để chúng sanh đạt được tâm thanh tịnh. Bởi v́ nếu trong
hiện tại tâm chúng ta được thanh tịnh, không c̣n phiền năo khổ đau th́ đây chính
là Niết Bàn trong cuộc sống nầy vậy.
Thật
vậy, mục đích của đạo Phật là không dùng những triết lư hay phương pháp tạm bợ
để giúp con người khai trừ những khổ đau hệ lụy trong nhất thời mà mục đích của
đạo Phật là giúp con người giải thoát hoàn toàn ra khỏi mọi nô lệ của phiền năo
và khổ đau.
Muốn
chuyển hóa nội tâm được chu toàn th́ trước hết chúng ta phải phá tan
cái bản ngă của ḿnh. Trong kinh A
Hàm, Phật dạy rằng một khi
chúng ta chứng được “ngă không” nên
khi làm việc lợi ích cho người th́ làm với một tâm niệm vô tư, không dính mắc.
Có nghĩa là khi làm việc thiện th́ đừng nghĩ đến lợi lạc cho ḿnh mà hướng tâm
về sự lợi lạc cho chúng sanh do đó việc thiện đó sẽ mang nhiều thiện quả về sau.
Ví dụ như khi chúng ta đi chùa lạy Phật th́ thường hay cúng dường chút ít tiền
hay hoa quả, nhưng khi bái Phật th́ chúng ta thường cầu nguyện cho con trai có
vợ đẹp, con gái có chồng giàu sang, làm ăn mua may bán đắt, bà con thân quyến
được b́nh an mạnh giỏi…Như vậy chúng ta đi chùa với tinh thần bản ngă là cầu lợi
cho ḿnh nên không đúng với lời Phật dạy. Mục đích tới chùa lạy Phật là để bớt
tham mà chúng ta đi chùa lạy Phật mà lại càng tham hơn th́ một ngày nào đó cái
bản ngă mê lầm của chúng ta sẽ biến đạo Phật thành ra mê tín di đoan. V́ thế
chúng ta nên làm việc phước đức với ḷng vô ngă, tức là làm việc thiện mà không
cần quả báo cho ḿnh hay hướng ḷng từ bi về người khác, th́ Luật Nhân Quả chẳng
những sẽ đền bù cho ta nhiều phước đức ở đời sau mà c̣n tạo cho ta một nhân cách
cao thượng và một tâm hồn trong sáng để tiếp tục hưởng phước thiện và làm việc
thiện.
Chúng
ta quỳ dưới chân Đức Phật, đầu ta cúi sát đất để biểu lộ rằng chúng ta vô cùng
nhỏ bé kém cỏi, c̣n Đức Thế Tôn th́ ṿi vọi như núi cao biển rộng. Trong giây
phút thiêng liêng đó, cái ngă mạn tự cao âm thầm bên trong bị lay động dữ dội
bởi v́ chúng ta ư thức được sự thấp kém của ḿnh bởi trước mắt chúng ta là đấng
cao cả sáng chói như ánh mặt trời rực rỡ. Thông thường, do ḷng đố kỵ và ích kỷ,
chúng ta ít chịu chấp nhận cái hay của người khác v́ người khác nổi bật sẽ làm
chúng ta bị lu mờ. Chúng ta thờ ơ trước những ưu điểm của kẻ khác và vui mừng
khi t́m thấy khuyết điểm của người v́ người lu mờ th́ ta sẽ nổi bật. Do tâm vị
kỷ chúng ta dễ dàng rơi vào cạm bẩy “tán kỷ, hủy tha”,
tức là chê người, khen ḿnh. Đây là cội nguồn phát sinh ra phiền năo và tạo
nghiệp cũng tại v́ cái ngă mạn mà thôi. Phải đổi tính vị kỷ nầy bằng tinh thần
vị tha th́ cuộc sống sẽ an vui tự tại. Thấy họ giỏi th́ khen, thấy họ giàu th́
mừng, thấy họ khổ th́ giúp đỡ th́ tâm không c̣n phiền năo và ḷng từ bi xuất
hiện để giúp chúng ta tạo thêm thiện nghiệp.
Giáo
lư đạo Phật là giúp con người tẩy trừ phiền năo để tâm được thanh tịnh. Tâm có
thanh tịnh th́ trí tuệ mới phát sinh để giúp chúng sinh đi thong dong trong con
đường chánh đạo. Mà gốc của phiền năo chính là tham, sân, si. Ví dụ có người
khoe rằng v́ nhờ tu thiền hay niệm Phật nên có thể xuất hồn đi ngao du khắp thế
giới hay gặp được Phật và Bồ Tát…Ngày xưa trong số đại đệ tử của Phật không ai
giỏi thần thông bằng tôn giả Mục Kiền Liên, nhưng thần thông đâu có thắng nghiệp
lực cho nên chính tôn giả cũng phải bị bọn ngoại đạo lăn đá đến chết. Do đó
chúng ta không quan tâm đến chuyện xuất hồn đi ngao du sơn thủy bởi v́ nếu phiền
năo chưa dứt th́ dù có ngao du ở đâu rồi cũng phải trở về trần gian để thọ lănh
quả báo đau khổ như thường.
Do đó
người tu Phật không cần phép mầu cao siêu huyền bí, mà điều căn bản là phải tự
xét ḿnh để thấy rằng thân làm, khẩu nói và ư tưởng suy nghĩ của ḿnh có hợp với
Phật pháp hay không? Nói một cách khác khi đối diện với ngoại cảnh th́ chúng ta
luôn luôn tự hỏi nếu việc đó Phật và Bồ Tát có làm th́ chúng ta làm, c̣n nếu họ
không làm th́ chúng ta đừng nghĩ tới. Không làm điều ác tức là không gây nghiệp,
mà không tạo nghiệp th́ khỏi lo đau khổ và chặt đứt dây luân hồi.
Chuyển nghiệp có nghĩa là chuyên làm việc thiện và tránh xa
điều ác. Nhưng muốn thực hiện hiệu quả điều nầy th́ tâm của
chúng ta phải bền vững kiên tŕ để không chạy theo ngoại cảnh ngay cả tám thứ
gió phong trần cũng không lung lay thay đổi được. Tám gió đó là:
1)Khi có nhiều tiền của, hoặc do ḿnh làm ra, hoặc được biếu
tặng, tâm có vui mừng chăng?
2)Đang có tiền của mà làm ăn lỗ lă, hay bị trộm cướp, hoặc oan
gia phá tan, tâm có buồn chăng?
3)Người vô cớ làm nhục, tâm có buồn tức chăng?
4)Được danh tiếng tốt đồn khắp xa gần có thấy hài ḷng không?
5)Được khen tâm có thấy vui chăng?
6)Bị chê trước mặt hay sau lưng, ḷng có buồn chăng?
7)Gặp cảnh khốn khổ, thiếu ăn thiếu mặc, nhà cửa hư hại, có
thấy nao ḷng chăng?
8)Gặp cảnh thật vui, thật sung sướng, ḷng có tham đắm chăng?
Nếu
tám thứ gió nầy thổi đến mà tâm chúng ta như như bất động, đó là đắc đạo, là
thành chánh quả. Nhưng chúng ta là phàm phu chớ không phải thánh nhân do đó nếu
muốn tâm ḿnh được như như bất động th́ nên cố gắng theo thời gian đánh tan từng
ngọn gió một th́ chắc chắn một ngày nào đó tâm của chúng ta sẽ được thanh tịnh,
có nghĩa là đạt được cảm ứng ngoại bất chấp tướng nội bất động tâm. Ví dụ như
hiện tại chúng ta đang bị giặc bên trong nổi loạn và giặc bên ngoài bao vây.
Trước hết phải chận giặc bên ngoài, tức là đừng cho lục trần quyến rũ mê hoặc
chúng ta, rồi sau đó vận dụng trí tuệ để dẹp giặc bên trong, tức là đừng để lục
căn bị sức lôi cuốn của dục vọng từ bên ngoài. Chúng ta đóng sáu cửa thành bên
trong lại, tức là kiềm chế kiểm soát lục căn của ḿnh đừng để cho nó chạy theo
ngũ dục lục t́nh, th́ giặc bên ngoài không có nội ứng mà tiến vào bên trong
được. Khi giặc trong ngoài biến mất th́ chúng ta mặc t́nh ung dung tự tại để t́m
lại cuộc sống an vui và hạnh phúc. V́ mỗi người chúng ta đều có thể tánh bất
sanh bất diệt gọi là chơn như hay Phật tánh. Lư do mà chúng ta không sáng suốt
là v́ cái Phật tánh nầy bị các chủng tử nhiễm tịnh che lấp làm cho vọng tưởng
khởi dậy liên miên. Càng bớt nhiều vọng tưởng th́ càng dễ dàng khôi phục cái
Phật tánh nầy để tâm trở thành thanh tịnh.
Thời
nay người tu không quan tâm đến việc chứng ngộ bản tâm thanh tịnh của ḿnh để
loại trừ phiền năo.Thậm chí có người lấy thời khóa tụng kinh làm sự
nghiệp tu hành. Khi Phật c̣n tại thế, chính Đức Phật và các vị đại đệ tử A La
Hán chỉ tọa thiền chứ không có tụng kinh. Sau khi Đức Phật nhập diệt, chư Tổ dạy
ra sự tụng kinh là muốn mượn phương tiện cho Phật tử kiềm chế
vọng tưởng của họ. Trong khi tụng kinh, tay gỏ mơ, tay đánh chuông, ư
duyên vào lời kinh th́ thân khẩu ư được thanh tịnh. Nếu tụng kinh được nửa giờ
th́ được thanh tịnh nửa giờ…Nhưng người tu không tụng kinh với chủ ư ấy mà lấy
sự tụng niệm làm sự nghiệp. Cả đời tu th́ sáng một thời công phu, chiều một thời
tịnh độ, c̣n bày ra cầu an cầu siêu, loanh qoanh lẩn quẩn. Tâm ḿnh th́ chất đầy
phiền năo, vọng tưởng mà lại đi cầu an cho người. Chính ḿnh không siêu nổi cho
ḿnh th́ làm sao mà siêu cho kẻ khác được. Muốn siêu th́ tâm phải thanh tịnh,
tinh khiết có nghĩa là không c̣n tham, sân, si, ái dục, do đó tự ḿnh đă không
mang lợi ích ǵ cho ḿnh mà c̣n hướng dẫn người đi sai lầm nữa. Thật là đáng
thương xót. Tụng kinh là việc tốt, là việc thiện, chỉ có việc không tốt là không
hiểu được ư kinh để áp dụng tu hành. Nếu biết nương theo kinh để thấy được tánh
giác của ḿnh là chánh tín và nếu biết nương theo kinh để cho thân khẩu ư được
thanh tịnh là chánh đạo.
Kinh
Phật có câu:”Bồ Tát sợ nhân, chúng sanh
sợ quả” cho nên một khi chúng ta gây ra một nghiệp căn nào th́ nó sẽ tồn tại
măi măi cho đến khi hội đủ nhân duyên th́ nó sẽ thành cái quả và đó là kết quả
của mọi sự khổ vui của chúng ta trong đời nầy. Nhưng nếu chúng ta muốn chuyển
nghiệp th́ phải cố gắng làm việc tốt, việc thiện th́ nhân duyên xấu không có cơ
hội kết cấu với nghiệp bất thiện để biến thành quả xấu mà tạo cảnh khổ cho chúng
ta. V́ thế muốn chuyển nghiệp viên măn là phải tùy duyên để tiêu nghiệp cũ bằng
cách không được gây thêm nghiệp mới. Bởi vậy cổ nhân mới có câu:
Tùy duyên tiêu cựu nghiệp
Thiết mạt tạo tân ương.
Phật
lại dạy rằng:
-
Quan sát tứ
đại trong thân nầy, mỗi cái đều có tên riêng như đất, nước, gió, lửa, th́ không
có cái nào có tên là cái ta cả. Cái ta cũng không có th́ thân nầy cũng giả dối,
không thật.
Thêm nữa, trong kinh Tăng
Nhất A Hàm, Đức phật cũng phân tích rơ ràng là trong thân người ta có ba trăm
sáu mươi lóng xương, năm trăm mạch máu, năm trăm sợi gân, chín mươi ngàn lỗ chân
lông và tám mươi ngàn hộ trùng.
Nếu
quan sát kỹ, chúng ta thấy rơ ràng không có ǵ là ta và của ta cả. Chẳng hạn như
khi nh́n một ngón tay th́ chúng ta thấy nó dài thon và đẹp, nhưng khi nh́n xuyên
qua lớp da bọc ngoài th́ thấy các lóng xương được cột lại bởi các sợi dây gân,
chung quanh bọc một mớ thịt bầy nhầy và bên ngoài được phủ lên bởi một lớp da.
Khi nh́n th́ chúng ta chỉ nh́n giả tướng bề ngoài chớ không chịu nh́n cái thật
thể của nó. Đáng lẽ bác sĩ phải là những kẻ giác ngộ hơn ai hết v́ hàng ngày họ
được nh́n rất tường tận biết bao nhiêu thân thể của bệnh nhân. Nhưng họ đâu có
thấy thân thể là bất tịnh, là giả tạo nên họ cũng như bao nhiêu người khác vẫn
c̣n đắm say sắc dục và dĩ nhiên phải chịu khổ đau như mọi người.
V́
chúng sinh không chịu quán chiếu để thấu rơ sự giả dối của vật thể mà mù quáng
chạy theo ái dục để tạo nghiệp nên khi nói về Lư Không của sự thọ dụng, Đức Phật
có dạy rằng:
-
Tất cả sự thọ dụng tức là Không. Như thọ dụng bao
nhiêu món ăn ngon, lúc buông đũa rồi tức là Không, khi đi ra ngoài nhiều người
theo hầu, đến lúc tới nơi không c̣n ai hầu nữa tức là Không. Cả ngày ham đi chơi
bời phóng túng, nhưng lúc về nhà rồi tức là Không.
Thật vậy, nếu chúng ta làm
việc lành đă xong th́ sự mệt nhọc kia chấm dứt, tức là Không, nhưng nghiệp lành
vẫn c̣n đó. Làm việc ác th́ cũng thế, lúc ai làm ta tức giận, chúng ta chửi mắng
họ cho thỏa ḷng. Khi mắng xong tức là Không, nhưng nghiệp ác khẩu vẫn c̣n. Do
đó, khi đối diện với việc ác th́ đừng tưởng làm rồi là Không, mà nghiệp ác đeo
đuổi đời đời kiếp kiếp là Có.
Vậy chuyển
nghiệp là cố gắng giải thoát cái bản ngă vị kỷ thấp hèn để có một đời sống đạo
đức xả kỷ, quên ḿnh để sống trọn vẹn v́ mọi người chung quanh.
Đời sống xả kỷ vị tha được
coi là một đức hạnh cao đẹp nhất của con người. Cho dù chúng ta chưa chứng được
trạng thái vô ngă thực sự, nhưng từng giây từng phút, từng tâm niệm, chúng ta
biết từ bỏ những lợi ích của ḿnh để lo cho lợi ích của mọi người th́ cái tự ngă
đang từ từ bị tiêu diệt.
Thật vậy,
đạo Phật có mặt để đem
lợi ích cho cuộc đời, chớ không phải để cuộc đời đem lợi ích lại cho đạo Phật.
Do đó một Phật
tử chân chính là người thấm nhuần giáo lư Đức Phật, rồi sau đó quay lại sống với
mọi người bằng ḷng từ bi vô ngă. Phật pháp là con đường để sống, là ánh sáng
trí tuệ hướng dẫn mọi người sống đúng với chân lư và chắc chắn sẽ mang lại an
vui tự tại cho ḿnh và cho tất cả mọi người.
Ở Trung Hoa đời nhà Đường có
nhà thơ rất nổi tiếng là Lư Bạch. V́ nghe danh Thiền Sư Ô Sào là một cao tăng
đắc đạo nên t́m tới tham vấn. Ô Sào có nghĩa là con quạ đen v́ thiền sư thích
ngồi trên cháng ba của một cây cổ thụ trên một nắm cỏ giống như một ổ quạ nên từ
đó người đời gọi Ngài là Thiền Sư Ô Sào.
Nhà thơ Lư Bạch đứng dưới đất
nh́n lên hỏi:
-
Bạch Ḥa thượng, xin Ḥa Thượng dạy cho tôi một phương pháp tu ngắn và
gọn để tôi có thể tu được.
Thiền Sư Ô Sào ở trên nói
xuống:
Chứng thiện
phụng hành
Tự tịnh kỳ ư
Thị chư Phật
giáo
Có nghĩa là:
Tất cả các
nghiệp ác chớ có làm
Nên làm tất cả
các việc lành
Cố gắng làm
cho tâm ư được thanh tịnh
Đó là lời dạy
của chư Phật.
Lư Bạch nghe qua, cười và nói:
-
Ḥa Thượng nói bài kệ đó
con nít tám tuổi cũng thuộc ḷng, vậy Ḥa Thượng đem dạy tôi để làm ǵ?
Thiền Sư Ô Sào nói:
-
Ông nói đúng, con nít
tám tuổi cũng thuộc nhưng ông già tám mươi tuổi làm cũng chưa xong.
Tuy đạo Phật là đạo ban vui
cứu khổ, nhưng con người phải sáng suốt để chọn con đường sống cho ḿnh. Con
đường thiện mang đến sự an lạc, hạnh phúc và ngược lại con đường ác dẫn đến sự
phiền năo, khổ đau. Cốt tủy của đạo Phật vẫn là tâm thanh tịnh để gạn lọc tham,
sân, si, phiền năo cho ḿnh trước, rồi mới trải ḷng thương giúp đỡ cho người,
làm cho mọi người được an vui hạnh phúc. Khi xưa chúng ta làm việc thiện với hy
vọng quả báo tốt ngày sau cho ḿnh th́ dĩ nhiên kiếp sau chúng ta sẽ được hưởng
phước báu nhưng tâm vẫn c̣n nặng tính tham lam, ích kỷ để dẫn dắt chúng trở lại
làm việc ác. Ngày nay chúng ta cũng làm nhiều việc thiện nhưng với tâm hồn trong
sáng, vị tha. Chúng ta thi ân mà không cần quả báo, làm việc thiện chỉ cầu lợi
ích cho chúng sanh chớ không cầu phước riêng cho ḿnh th́ tinh thần vô ngă, vị
tha của nhà Phật đă nẩy nở rộng lớn để che lấp chỗ tham lam, ích kỷ trong tâm
chúng ta.
Sự hạnh phúc và khổ đau của
chúng ta trong đời nầy chẳng qua chỉ là Nghiệp Quả mà chúng ta đă tạo ra trong
đời quá khứ mà thôi. Cái định mệnh vô h́nh nầy không phải là do thần linh sắp
đặt, hay là ông trời áp xuống mà chính là do tự tay chúng ta tạo ra. Mỗi nghiệp
chúng ta đă tạo ra từ đời trước chính là cái vui hay cái khổ mà chúng ta nhận
lănh ở đời nầy. Thế th́ nếu ḿnh tạo nghiệp được th́ chính ḿnh có thể sửa
nghiệp được, nhưng muốn chuyển nghiệp th́ trước hết phải chuyển tâm. Tâm có
trong sáng th́ hành động mới thanh cao, ngược lại tâm ngă mạn th́ hành động đen
tối.
Sau cùng, người tu Phật là
người sáng suốt để ĺa xa mọi hành vi bất thiện và không làm việc ác bởi v́ sống
trong thế gian nếu gặp cảnh thuận th́ con người sẽ nổi tánh tham c̣n gặp cảnh
nghịch th́ ḷng sân nổi
dậy. Do đó cho dù chúng ta có gặp cảnh thuận hay cảnh nghịch th́ tâm vẫn khởi
động niệm như thường. V́ thế khi gặp bất cứ hoàn cảnh tốt hay xấu th́ đó cũng
chỉ là cách tăng thượng duyên cho chúng ta mà thôi. Nếu gặp cảnh khó khăn th́ cứ
nghĩ đây là sự thử thách của Phật hay Bồ Tát th́ tâm của chúng ta sẽ thanh tịnh.
Thêm nữa, có buông xả th́ tâm
mới được thanh tịnh. Nếu chúng ta cứ ôm giữ khư khư vào ḷng bao nhiêu phiền năo,
tức là không bớt được tham-sân-si, th́ khó ḷng mà đạt được tâm thanh tịnh. Phật
pháp là đoạn phiền năo, nếu như học Phật mà vẫn c̣n phiền năo tức là đi ngược
lại hướng đi của Phật pháp. Do đó chúng ta luôn luôn làm việc lành, việc tốt,
tránh xa việc ác, việc xấu và cố giữ tâm của ḿnh cho được thanh tịnh là chúng
ta đă tự giải thoát ra khỏi mọi hệ lụy đau khổ của thế gian để t́m về cảnh giới
an vui, tự tại và hạnh phúc viên măn.
Chúng sinh vô-biên thệ nguyện độ,
Phiền năo vô-tận thệ nguyện đoạn,
Pháp môn vô-lượng thệ nguyện học,
Phật đạo vô-thượng thệ nguyện thành.
Nam Mô A Di Đà Phật