Ánh Đạo Vàng

Home • Pháp Âm • Kinh Sách • Kinh Tụng • H́nh Ảnh • Thỉnh Kinh • Ấn Tống • Video • Liên Lạc
Diệt Đế (Nirodha Dukkha) (Cessation of Suffering)

          Qua hai phần Khổ đế và Tập đế th́ chúng ta đă quen thuộc với đời là biển khổ và nguyên nhân nào đưa đến những cảnh khổ nầy. Nói như thế, không phải Đức Phật chỉ cho chúng ta thấy đời là biển khổ  để chúng ta nh́n cuộc đời  này toàn là một màu đen âm u ảm đạm và không có chút ánh sáng. Sống như thế th́ ích lợi ǵ? Và chân lư như vậy th́ làm sao mà gọi là chân lư tối thượng cho được? Xin trả lời rằng giáo lư nhà Phật là một giáo lư hoàn toàn viên măn để mang lại hạnh phúc chân thật cho tất cả mọi người. Đứng về phương diện tâm lư th́ Đức Phật cho ta thấy rằng: khi đói th́ ḿnh mới thấu hiểu được giá trị lúc được no, cũng như kẻ nghèo th́ sẽ sung sướng khi được giàu sang và khi đau ốm mới thấy giá trị của lúc c̣n lành mạnh. Cùng một ư nghĩa đó, Đạo Phật không phải chỉ giới thiệu những cảnh khổ ải, thê lương để gieo vào ḷng chúng ta sự chán đời  và tuyệt vọng, mà có mục đích để khai thị cho chúng sinh biết rơ tận căn cơ của mọi sự khổ để t́m phương pháp đạt đến một chân hạnh phúc và chứng được Niết Bàn.

      Trong thế gian này chúng ta thường thấy có hai hạng người:

     1)Hạng người thứ nhất là họ nh́n cuộc sống này với một tư tưởng lạc quan. Họ rất yêu đời bởi v́ họ đang hưởng thụ giàu sang phú quư và công danh thành đạt. Cuộc đời này đối với họ th́ lúc nào cũng đẹp như bài thơ nên họ không cần phải tu nhân tích đức và lo cho ngày mai. Họ nghĩ rằng với sự giàu có như vậy th́ người khác cần đến họ chứ họ chả cần đến ai. Đối với những người nầy th́ vật chất, tiền tài và danh vọng đă làm tâm trí của họ bị lu mờ. Họ chỉ thấy ngày nay mà quên đi ngày mai. Họ chỉ biết hiện tại mà không nghĩ ǵ đến kiếp tương lai. Phật giáo gọi họ là những kẻ không sáng suốt, mê muội. Tai sao thế? Chúng ta thấy trên thế gian nầy có ai giàu sang, quyền thế hơn vua Tần Thủy Hoàng ngày xưa chưa? Vậy vua nhà Tần bây giờ ở đâu? Có lẽ ông ta đă tiêu ma thành cát bụi từ mấy ngàn năm rồi c̣n đâu nữa mà an hưởng!  Nên nhớ là cuộc đời tạm bợ mà chúng ta đang sống nầy chẳng khác chi là quán trọ chứ đâu phải là nhà. Họ có thể sung sướng ngày nay hoặc là kiếp nầy nhưng ngày mai, kiếp sau th́ sao? Họ có thể thoát ra khỏi cảnh ốm đau, già yếu được không? C̣n thân tứ đại của họ kéo dài được bao lâu để cho họ an hưởng? Cái sung sướng vật chất tạm bợ có phải là sung sướng chân thật không? Hay là càng giàu th́ càng lo! Càng trèo cao th́ càng té nặng.

      2)C̣n hạng người thứ hai là loại người thông minh và có trí tuệ sáng suốt. Thật vậy, chỉ có sự thức tỉnh sáng suốt mới cho chúng ta thấy đâu là mê, đâu là thật. Không phá mê th́ làm sao mà khai ngộ cho được? Những hạnh phúc trên trần gian nầy đều là sự sung sướng giả tạo. Bởi v́ khi vừa mới chớm thấy sung sướng th́ chúng ta đă lo lắng bồn chồn, không biết sự sung sướng này sẽ kéo dài bao lâu. Lo lắng là đau khổ chứ ai gọi là sung sướng bao giờ. Thế th́ chưa thấy sung sướng mà đau khổ đă hiện lên rồi. Người thông trí tuệ th́ biết rằng mọi cấu tạo trên thế gian đều là vô thường bao gồm cả cái thân tứ đại của chúng ta. Một khi đă là vô thường th́ làm sao mà tồn tại bất biến măi măi cho được. Nay có, mai không, lúc ẩn, lúc hiện biến chuyển quay cuồng theo thời gian.

         Vậy đâu là chân hạnh phúc?

Đây là điểm hay nhất trong toàn bộ giáo lư của Đức Phật v́ nó là cứu cánh của chúng sinh khi tu đạo. Thử nghĩ cả đời chúng ta cố gắng tu hành mà cuối cùng không đạt đến chỗ này được th́ thực là uổng công phí sức. Cũng như người học sinh cho dầu có học hành cực khổ cách mấy mà không thi đỗ th́ chẳng ích lợi ǵ. Công tŕnh dồi kinh mài sử chẳng khác nào như dă tràng xe cát biển đông mà thôi. Chỉ khi nào chúng ta chứng được chân hạnh phúc th́ lúc đó chúng ta mới thật sự đạt được hạnh phúc viên măn và không c̣n bị chi phối bởi luật sanh tử luân hồi cũng như không c̣n phiền năo chấp trước đeo đuổi ta nữa.

Vậy thế nào là chân hạnh phúc?

Phật giáo không dạy con người những hạnh phúc tạm bợ nhất thời của thế gian v́ chính nó là cội nguồn của biết bao lo âu phiền năo và khổ đau sau nầy. Chẳng hạn như chúng ta vừa mới mua một cái nhà thật sang thật đẹp. Ngày tân gia chắc chắn phải là ngày mà gia đ́nh hảnh diện và hạnh phúc. Nhưng cái hạnh phúc nầy kéo dài bao lâu? Vài tháng sau th́ chủ nhà phải lo lắng nào là tiền nhà, tiền thuế, tiền bảo hiểm, tiền bảo tŕ và bao nhiêu món tiền khác liên quan đến căn nhà nầy. Vậy cái hạnh phúc nhất thời trong vài tháng đầu có phải là cội nguồn của biết bao lo lắng buồn phiền của những năm tháng sau nầy. V́ thế hạnh phúc mà đạo Phật nhấn mạnh ở đây chính là sự an lạc, thanh tịnh trong tâm của con người. Đây chính là Niết bàn trong trần thế vậy.

Sau cùng, Diệt đế là chân lư chân thật, chắc chắn và giúp chúng sinh đạt được một hạnh phúc chân thật, viên măn. Một khi chúng sinh chứng được quả vị nầy th́ chúng sinh đó đă chứng được Niết Bàn vậy.

Nhưng trước khi nói về Niết Bàn, chúng tôi muốn giới thiệu đến quư vị tất cả những giai đoạn từ lúc mới bắt đầu tu cho tới khi đạt đến quả vị Bồ-tát, và Phật. Vâng, đây không phải là việc dễ dàng mà đạt được. Nhưng nếu chúng ta cố gắng tŕ công th́ giấc mơ kia một ngày nào đó sẽ biến thành sự thật. Bởi v́ ngày xưa Nguyễn Bá Học cũng nói:” Đường đi không khó v́ ngăn sông cách núi, mà khó v́ ḷng người ngại núi e sông”. Hay là:” Không sợ bông hồng kia có quá nhiều gai, mà chỉ sợ trong những gai kia không có một đóa hoa hồng mà thôi”. Thật vậy, Đức Phật đă hiểu rơ sự khó khăn nầy nên Ngài đă chế ra  84,000 pháp môn khác nhau để giúp chúng sinh tùy theo căn cơ và khả năng của ḿnh mà cố gắng tu hành ngơ hầu đạt thành chánh quả. Do đó mới có câu:

Nắm lấy chuổi tràng trần niệm dứt,

Nghiểm nhiên thành Phật đă từ lâu”.

Vậy chúng ta phải qua những giai đoạn nào?

        Tu Gia Hạnh: Đây là giai đoạn khởi đầu trong cuộc đời tu hành của chúng ta. Việc đầu tiên là phải thông qua giáo lư căn bản của đạo Phật  bắt đầu từ luật Nhân quả Luân hồi, thuyết Vô thường Vô ngă, Nghiệp căn và Nghiệp báo, Từ Bi hỷ xả, Bố thí, Tŕ giới và cuối cùng là Tứ diệu đế. Một khi quư vị đă nắm chắc những điều căn bản đó th́ những điều thấy biết sai lầm điên đảo sẽ tan biến mất.Tuy nhiên, muốn trừ bỏ tất cả mọi Kiến hoặc, th́ chúng ta phải cần nhiều th́ giờ tu tập để loại mọi thành kiến mê lầm của phàm phu mà đến Thánh trí để dự vào ṿng Thánh quả.

1) Tu-Đà-Hoàn: Một khi đă qua được giai đoạn đầu th́ ư thức của chúng ta đă sáng suốt không c̣n bị mê lầm nữa. Tuy nhiên thất thức vẫn c̣n chấp ngă nên chúng ta vẫn c̣n nằm trong ṿng luân hồi sanh tử. Một khi phá được cái chấp ngă th́ chúng ta đă chứng được vị Tu-Đa-Hoàn.

2) Tư-Đà-Hàm: Sau khi chứng được quả Tu-Đà-Hoàn ở trên, có nghĩa là chúng ta đă loại được Kiến hoặc nhưng chưa đụng tới Tư hoặc. Tư hoặc là loại nặng kư và gồm có 9 phần (hạ hạ, hạ trung, hạ thượng, trung hạ, trung trung, trung thượng, thượng hạ, thượng trung, thượng thượng). Nếu chúng ta đạt được 6 phần đầu th́ quư vị đă chứng được Tu-Đà-Hàm. Đây là quả vị thứ hai trong Thánh văn thừa.

3) A-Na-Hàm: tạm dịch là bất lai, có nghĩa là không trở về cơi dục nữa. Đây là giai đoạn cực kỳ quan trọng của kẻ tu hành bởi v́ khi bước qua ngưỡng cửa này th́ họ không c̣n ảnh hưởng của sự sanh tử nữa. Họ sẽ không c̣n bị tái sanh trừ khi chính họ phát nguyện trở lại cơi nầy để độ sanh. Nếu chúng ta cố gắng đạt 3 phần c̣n laị của Tư hoặc thí quư vị đă chứng được quả A-Na-Hàm.

4) A-La-Hán: Khi chúng ta đă bỏ được những mê lầm của Kiến hoặcTư hoặc th́ việc sau cùng là phải cố gắng loại bỏ phần c̣n lại của mê lầm  là Vi Tế hoặc.

Ø    Đối với Tham vi tế, chúng ta có thể dùng Thiền định để đạt minh Tâm kiến tánh hoặc Niệm Phật cho đến khi nhất Tâm bất loạn để chế phục và tiêu diệt nó.

Ø    Đối với Sân vi tế, đối với loại nầy th́ thật khó mà nhận biết được những hiện tượng nhỏ nhặt nầy bởi v́ nó chỉ phát hiện dưới h́nh thức tiềm năng. Chẳng hạn như đôi khi chúng ta cảm thấy chán nản buồn bực mà không hiểu tại sao. Những t́nh cảm này xuất hiện rất yếu ớt đến nổi chúng ta chỉ có thể cảm nhận nó một cách mơ hồ hoặc là đôi khi không thể nhận biết được. Để trừ Sân vi tế, con người phải phát tâm Bồ-đề, tham thiền hay niệm Phật để làm cho tâm trong lành, hiền ḥa. Cố gắng làm cho mọi người được an vui th́ tâm của họ sẽ an tịnh.

Ø    Đối với Si vi tế, chúng sinh phải phát huy trí tuệ để giúp cho tâm thanh tịnh bởi v́ trí tuệ  lúc nào cũng thắng vô minh.

Khi đă loại bỏ mọi Vi Tế th́ chúng sinh đă chứng được quả A-La-hán. Đây là quả vị cao nhất trong Thanh văn thừa. Đến đây, th́ quư vị có phước đức hoàn toàn, trí tuệ cao cả, không c̣n bị phiền năo quấy phá, và dĩ nhiên không bị luân hồi sanh tử chi phối nữa. Đối với con người, thoát khỏi ṿng luân hồi sanh tử là một thành công vĩ đại bởi v́ họ không bị sống chết, khổ đau, lo buồn và sợ hăi chi phối nữa.

Khi đă chứng được quả vị A-La-hán th́ chúng sinh có hai chọn lựa:

1)Nếu chúng sinh thỏa chí với địa vị này mà không muốn phát tâm tu thêm để đạt những quả vị cao hơn th́ được gọi là Bất hối tâm đơn A-la-hán.

2)Nếu chúng sinh có lợi căn lợi trí và muốn phát tâm tu luyện thêm chứ không tự măn ở địa vị đă chứng th́ được gọi là Hồi tâm đại A-la-hán.

Thêm một điểm nữa là khi tu luyện, hể chúng ta đoạn trừ mê lầm được chừng nào th́ chứng quả đến chừng ấy chớ không phải chờ sanh qua kiếp khác mới chứng được quả kia đâu.

Một khi quư vị chứng được quả Tu-Đa-Hoàn th́ chúng sinh có được 5 phép thần thông sau đây:

1)Thiên nhăn thông: là có nhăn lực nh́n thấy khắp muôn loài cùng sự sanh hóa trong thế gian bao la hiện tại.

2)Thiên nhĩ thông: là có nhĩ lực để nghe khắp mọi nơi bao gồm loài người và ḷai vật.

3)Tha tâm thông: là có tâm lực biết được tâm niệm sở cấu của kẻ khác.

4)Túc mạng thông: là có trí lực hiểu biết các kiếp trước của ḿnh.

5)Thần tức thông: là có thể thu nhận được thần thông tự tại như ư muốn.

Năm phép thần thông nầy, tuy có phần đặc biệt hơn người thường nhiều nhưng chưa đạt được điểm quan trọng nhất là Lậu Tận Thông. Bởi v́ chứng được lậu tận thông sẽ mang đến trí tuệ thông suốt của ba đời. Không c̣n bị các phiền năo làm ngăn cản và thoát ra được cảnh sanh tử luân hồi. Chỉ có những vị A-la-hán mới chứng được quả vị này.

Sau cùng, Đức Phật dạy chúng sanh phải trăi qua 55 quả vị th́ mới thành Phật được. Đó là: Thập tín, Thập trụ, Thập hạnh, Thập hồi hướng, Tứ gia hạnh, Thập địa và sau cùng là Đẳng giác. Song song với 55 quả vị nầy th́ chúng sinh c̣n phải đương đầu với 50 món ma và đây là những điều nguy hiểm nhứt trên đường tu hành.

Chúng ta hiện tại đang sống trong thời mạc pháp thành thử không có ǵ là lạ khi chúng ta nghe có người tự xưng ḿnh là Bồ-tát nầy hay Quán Thế Âm nọ. Đức Phật khi c̣n sanh tiền đă nghiêm cấm các đệ tử của Ngài về việc mạo xưng này.

Phật dạy rằng:

A Nan, chính thật Bồ-tát hay A-la-hán thị hiện, mà c̣n không cho người biết, tại sao những người phàm phu lại dám mạo nhận xưng ḿnh là Phật, hay Bồ-tát... Cũng như người cùng đinh, mà mạo xưng ḿnh là Đế vương, th́ sẽ bị tội tru diệt. A Nan, nếu người tu hành, không đoạn trừ đại vọng ngữ, mà muốn được đạo, th́ cũng như người tự cắn cái rún của ḿnh, làm sao mà cắn được”.

Khi nói về tâm phiền năo, tâm ô nhiễm th́ có người hỏi: Nếu tâm này (tâm ô nhiễm) bị diệt th́ lấy ǵ để tiếp tục tu hành? Xin thưa: Tâm của chúng ta có hai phần: chơn thể và vọng tưởng. Khi diệt, th́ chúng ta chỉ diệt cái tâm “vọng tưởng” mà thôi chớ không phải diệt cái “chơn thể” của tâm. Cũng như v́ gió mà làm cho nước nổi sóng. Nếu gió ngừng th́ sóng sẽ lặn chớ nước không bị diệt.

Next


Home • Pháp Âm • Kinh Sách • Kinh Tụng • H́nh Ảnh • Thỉnh Kinh • Ấn Tống • Video • Liên Lạc


Chúng sinh vô-biên thệ nguyện độ, Phiền năo vô-tận thệ nguyện đoạn,
Pháp môn vô-lượng thệ nguyện học, Phật đạo vô-thượng thệ nguyện thành.

Nam Mô A Di Đà Phật