Ánh Đạo Vàng

Home • Pháp Âm • Kinh Sách • Kinh Tụng • H́nh Ảnh • Thỉnh Kinh • Ấn Tống • Video • Liên Lạc

Đức Phật A Di Đà, Tây Phương Tam Thánh:

Đại Thế Chí Bồ Tát, Đức Phật A Di Đà, Quán Thế Âm Bồ Tát

             Trong cuộc đời hành đạo của Đức Phật Thích Ca, đại đức A Nan là người gần gủi Ngài nhiều nhất. Cũng chính v́ cơ duyên nầy mà ông ta đă học hỏi rất nhiều ở nơi Phật.

          Một hôm, ngài A Nan nh́n thấy dung mạo Đức Phật lại khác thường hơn mọi ngày v́ Ngài nh́n có vẻ vui hơn.

          Phật dạy rằng:

- Ta cảm nhớ Đức Phật A Di Đà nên muốn nhắc đến nhân địa của Ngài để chỉ dạy chúng sinh tu về môn Tịnh độ.

Phật kể rằng:

“Từ đời quá khứ thật xa , cách nay hơn 10 kiếp, có một nước tên là Diệu Hỷ. Vua của nước nầy tên là Nguyệt Thượng Luân và Hoàng hậu là Thù Thắng Diệu Nhân. Hoàng hậu sinh ra được ba người con: người con lớn tên là Nhật Nguyệt Minh, người con thứ hai là Kiều Thi Ca và người con út tên là Nhật Đế Chúng. Trong thời bấy giờ, có Đức Phật hiệu là Thế Tự Tại Vương Như Lai giáng sinh để cứu độ chúng sinh. Khi nghe tin có Phật tái thế, Hoàng tử Kiều Thi Ca quyết định rời bỏ cung vàng t́m đến Phật để xin xuất gia. Ngài được Phật chấp nhận cho thọ Tỳ kheo giới và ban cho hiệu là Pháp Tạng Tỳ kheo. Khi đứng trước Đức Phật Thế Tự Tại Vương Như Lai th́ Ngài Pháp Tạng phát 48 lời nguyện rộng lớn để độ tất cả mười phương chúng sanh. Nếu có lời nguyện nào không viên măn th́ Ngài thề chẳng thành Phật. Sau cùng Pháp Tạng trở thành Phật A Di Đà.

A Di Đà có nghĩa là vô lượng thọ và vô lượng quang. Phật A Di Đà là Phật sống lâu không có số lượng và hào quang th́ chói sáng khắp nơi vô tận.

Khi thành Phật, Đức A Di Đà đă khai thiên cho Ngài một cảnh giới cực lạc mà Đức Phật Thích Ca gọi đây là Tây phương Cực lạc. Đây chính là bồng lai tiên cảnh.

Bậy giờ chúng ta hăy nghe Đức Phật Thích Ca kể tiếp: Từ cơi Ta bà nầy hướng về cơi Tây, hơn muôn muôn ức cơi, có một thế giới gọi là Cực lạc hay Tịnh độ. Ở nơi đó, Đức Phật A Di Đà thường hay thuyết pháp để hóa độ chúng sinh. Phong cảnh ở đây vô cùng đẹp đẻ, sáng lạng vui tươi và khi nh́n chung quanh chẳng khác chi là một vườn hoa vĩ đại với những hàng cây ngay ngắn. Những tường hoa, những dây leo rũ xuống như màu gấm, như lụa là và kèm theo những hồ nước chứa đầy những thứ nước có tâm công đức. Đặc biệt đáy hồ lát bằng cát vàng và bao quanh bằng những hoa sen lớn bằng bánh xe với đủ màu sắc có hương thơm tỏa ngát và hào quang tỏa ra tuyệt đẹp. Hễ hoa sen màu xanh th́ phát ra hào quang xanh. Hoa màu trắng th́ phát ra màu trắng. C̣n hoa màu hồng th́ phát ra hào quang màu hồng. Thêm nữa, đền đài, điện các ở cơi Tịnh độ đều làm bằng ngọc vàng châu báu. Thật là hiếm có. C̣n nói về chim chóc ở đây th́ toàn là những thứ chim quư chẳng hạn như bạch hạc, không tước, anh vỏ…Những loài chim nầy lúc nầy cũng hót ra những tiếng pháp vi diệu để ḥa lẫn trong những điệu nhạc thiêng liêng làm cho bất cứ ai khi nghe đến cũng đều pháp tâm hoan hỷ niệm Phật. Các loài chim nầy do chính Đức Phật A Di Đà biến hóa ra để thuyết pháp cho chúng sinh nghe. Ở cơi Tây phương nầy th́ không bao giờ có màn đêm bởi v́ hào quang của Đức Phật phát ra vô tận.

Đức Phật A Di Đà có tất cả 48 lời nguyện. Nhưng đối với những người tu Tịnh độ th́ lời nguyện thứ 18 và 19 là quan trọng hơn cả.

Lời Nguyện thứ 18: Lúc tôi thành Phật , thập phương chúng sanh, chí tâm tín mộ, muốn về cơi nước tôi, niệm đến 10 niệm. Nếu không được văng sanh th́ tôi không ở ngôi Chánh giác ngoại trừ những kẻ tạo tội ngũ nghịch hoặc là hủy báng Chánh pháp.

Lời nguyện thứ 19: Lúc tôi thành Phật, thập phương chúng sanh phát Bồ-đề tâm, tu các công đức, nguyện sanh về cơi nước tôi. Đến lúc lâm chung, nếu tôi chẳng cùng đại chúng hiện thân trước người đó, th́ tôi không ở ngôi Chánh giác.

                       Hoa sen.

Kinh Phật nói rằng:” Hoa sen trong nhân gian nhiều lắm là có mấy mươi cánh. Hoa sen trên cơi trời có khoảng chừng vài trăm cánh. C̣n hoa sen ở cơi Tịnh độ lại có hơn ngàn cánh”.

Hoa sen là biểu thị từ chỗ phiền năo đến chỗ thanh tịnh. Bởi v́ loài sen th́ mọc lên từ trong bùn lầy và nở hoa trên mặt nước. Nó ẩn chứa ư nghĩa là mặc dù sinh ra từ trong bùn nhơ mà lại không nhiễm mùi bùn. Không hôi tanh nhơ nhớp mà lại tinh khiết thơm tho. Hoa sen mọc trong nước vào mùa hè nóng nực. Nóng nực là biểu thị cho phiền năo và nước th́ tượng trưng cho thanh tịnh mát mẻ. Khi tu Tịnh độ th́ chúng ta từ phiền năo đạt đến giải thóat cũng như sinh về Tịnh độ là hóa sinh trong hoa sen.

Đối với Thánh nhân th́ hoa sen tượng trưng cho công đức thanh tịnh và trí tuệ thanh lương. Cho nên chúng ta thấy Phật hay Thánh đều ngồi hay đứng trên hoa sen.

“Thân tuy ở cơi Ta bà,

Mà ḷng đă gửi bên ṭa hoa sen”

Next


Home • Pháp Âm • Kinh Sách • Kinh Tụng • H́nh Ảnh • Thỉnh Kinh • Ấn Tống • Video • Liên Lạc


Chúng sinh vô-biên thệ nguyện độ,
Phiền năo vô-tận thệ nguyện đoạn,
Pháp môn vô-lượng thệ nguyện học,
Phật đạo vô-thượng thệ nguyện thành.

Nam Mô A Di Đà Phật