Ánh Đạo Vàng

Home • Pháp Âm • Kinh Sách • Kinh Tụng • H́nh Ảnh • Thỉnh Kinh • Ấn Tống • Video • Liên Lạc

Đức Phật Nhập Diệt

         

          Trong cuộc đời hành đạo 49 năm của Đức Phật, Ngài đă không ngần ngại đi khắp mọi nơi từ đông qua tây, từ bắc xuống nam, hết nước nầy đến nước khác để hoằng dương đạo pháp. Hể nơi nào có bước chân Ngài đến là ánh đạo vàng bừng tỏa huy hoàng. Hạt giống từ bi được Ngài tinh tấn gieo khắp các nơi ở Ấn Độ và Tây tạng. Ngài đă được mọi người từ nghèo đến giàu, từ vua chúa đến thứ dân, từ thiện nam đến tín nữ, từ già đến trẻ đều vui vẻ được tắm gội trong ánh sáng trí tuệ và nước từ bi do Ngài tưới xuống. Bất cứ ở đâu có ánh đạo vàng đến th́ tà giáo và ngoại đạo phải tránh xa, tan biến như những làn mây, như những bóng tối trước ánh b́nh minh đang lên.

          Khi giác hạnh của Phật đă viên măn th́ Ngài đă 80 tuổi. Cũng giống như mọi người trên thế gian nầy, sắc thân tứ đại của Ngài cũng theo luật vô thường mà biến đổi. Mặc dầu biết trước ba tháng trước ngày nhập diệt, Ngài vẫn không nghĩ ngơi mà vẫn tiếp tục đi truyền đạo.

          Một ngày kia, Đức Phật nói với ông A Nan:

"Đạo ta nay đă viên măn. Như lời nguyện xưa, nay Ta đă có đủ bốn hạng đệ tử: Tỳ kheo, Tỳ kheo ni, Ưu-bà-tắc (thiện nam), Ưu-bà-di (tín nữ). Nhiều đệ tử có thể thay Ta chuyển xe pháp, và Đạo Ta cũng đă truyền bá khắp nơi. Bây giờ Ta có thể rời các ngươi mà ra đi. Thân h́nh Ta, theo luật Vô thường, bây giờ như một cổ xe đă ṃn ră. Ta đă mượn nó để chở Pháp, nay xe cũng vừa ṃn mà Pháp cũng đă lan khắp các nơi, vậy Ta c̣n mến tiếc làm ǵ cái thân tiều tụy nầy nữa? A Nan! Trong ba tháng nữa Ta sẽ nhập diệt".

          Một ngày nọ trên đừơng đi thuyết pháp, Ngài gặp một người làm nghề đốt than tên là Thuần Đà (Cunda) mời Ngài về nhà để cúng dường. Ông ta dâng cho Ngài một tô cháo nấm heo rừng, v́ thứ nấm nầy rất được giống heo rừng ưa thích.

          Sau khi dùng cháo xong, Đức Phật cảm thấy trong người đau đớn vô cùng v́ Ngài đă nhiễm bịnh ly huyết rất trầm trọng. Mặc dầu cơn đau đang hành hạ thân thể, nhưng Ngài vẫn cố gắng đi bộ khoảng 9 cây số để đến cho kỳ được Câu Thi Na (Kusinagara). V́ đoạn đường đi quá xa và cơn đau hành hạ nên Ngài phải dừng chân nghĩ tới 25 lần. Lư do mà Ngài phải đến Kusinagara là v́ ba điều kiện:

1)   Ngài muốn thuyết pháp một lần chót cho chúng tăng để sống một cuộc đời đạo hạnh.

Phật dạy rằng:"Này ! Các người phải tự thắp đuốc lên mà đi ! Các người hăy lấy Pháp của Ta làm đuốc! Hăy theo Pháp của Ta mà tu giải thoát! Đừng t́m sự giải thoát ở một kẻ nào khác, đừng t́m sự giải thoát ở một nơi nào khác, ngoài các ngươi!"

Rồi Phật lại dạy tiếp:"Này! Các ngươi đừng v́ dục vọng mà quên lời Ta dặn. Mọi vật ở đời đều không có ǵ quư giá. Thân thể rồi sẽ tan ră. Chỉ có đạo Ta là quư báu. Chỉ có chân lư của đạo Ta là bất di, bất dịch. Hăy tinh tấn lên để giải thoát, hởi các người rất thân yêu của Ta".

Một điều rất quan trọng khác mà chính Đức Phật muốn dạy cho tất cả đệ tử của Ngài trước khi Ngài nhập diệt là "Tứ Y Pháp".

Phật dạy rằng:" Tứ y pháp có mục đích chính là giúp cho phật tử sau nầy dễ dàng phân biệt đâu là chánh pháp và đâu là tà pháp từ mặt h́nh thức cho đến nội dung". Tứ y pháp gồm có: Y pháp bất y nhân, y nghĩa bất y ngữ, y liễu nghĩa bất y liễu nghĩa và y trí bất y thức.

Trước hết ư Phật muốn nói ǵ về "y pháp bất y nhân"?

Chúng ta sanh ra vào thời không có Phật, nếu muốn công phu tu tập được vững chắc th́ chúng ta phải dựa vào chánh pháp để mà tu. Chánh pháp là dựa vào kinh điển bởi v́ kinh  điển là lời Phật dạy. Nếu trái với kinh điển mà là kiến giải của riêng người ấy sáng chế th́ chúng ta không thể nghe theo. Nói một cách khác chánh pháp là Phật pháp, có nghĩa là tăng đoàn phải lấy tam bảo làm trung tâm chớ không lấy một cá nhân đặc biệt nào làm đối tượng cả. Nhưng  sau khi Đức Phật nhập diệt th́ khuynh hướng đó được xoay qua thành "trọng người nhẹ Pháp". Điều đó có nghĩa là trọng vị tăng hơn là giáo pháp v́ thế tam bảo được thay thế bằng tăng bảo. Thật đáng tiếc.

C̣n thế nào là y nghĩa bất y ngữ?

Toàn bộ kinh điển của Phật giáo mà ngày nay chúng ta thấy đă được phiên dịch nhiếu lần bằng nhiều dịch giả khác nhau từ tiếng Phạn sang tiếng Hán và sau đó sang tiếng Việt. Phật dạy rằng cho dù là ai có nói hay viết cách ǵ đi chăng nữa, nếu họ vẫn giữ được ư nghĩa những lời Phật dạy trong kinh th́ vẫn là chánh Pháp.  Trong Phật giáo nếu chúng ta tu theo Thiền tông th́ cứu cánh là Minh tâm kiến tánh. C̣n phía Tịnh Độ th́ họ gọi là Nhất tâm bất loạn. Nhưng phía Giáo Môn th́ họ gọi là Đại Khai viên giải. Cho dù chúng ta gọi nó là Minh tâm kiến tánh, Nhất tâm bất loạn hay là Đại khai viên giải th́ ư nghĩa của nó cũng như nhau. Đó là thấy được tánh giác của ḿnh vậy.

Vậy thế nào là y liễu nghĩa bất y liễu nghĩa?

Liễu nghĩa là thoát ra khỏi ṿng sanh tử và không c̣n c̣n bị chi phối trong lục đạo luân hồi.

Quư vị thường nghe câu " có cầu tất có ứng". Trong cuộc  sống hằng ngày chúng ta thường hay cầu cho ḿnh được nhiều tiền lắm của, có kẻ cầu cho ḿnh được có con trai  hay con gái. C̣n kẻ khác lại cầu cho ḿnh sớm được thăng quan tiến chức. Tất cả những điều cầu xin nầy chỉ liên quan đến một đời nầy của chúng ta mà thôi nhưng chính nó không giúp cho chúng ta thoát ra khỏi lục đạo luân hồi th́ Phật gọi là bất liễu nghĩa".

Đức Phật dạy chúng ta chỉ nên quan tâm đến Liễu nghĩa để có cơ hội giải thoát cho ḿnh ra khỏi lục đạo luân hồi mà thôi. Đây là cứu cánh duy nhất của kẻ tu hành.

Sau cùng là y trí bất y thức?

Trí là  trí tuệ c̣n thức là cảm t́nh. Thông thường trong vấn đề giao tế nếu chúng ta dùng cảm t́nh để xử sự với mọi người th́ dễ dàng bị lầm lỗi bởi v́ t́nh cảm là mê muội, không sáng suốt. Phật khuyên chúng ta nên lấy lư trí sáng suốt mà hành sự th́ không sợ bị sai lầm.

Sau đó Ngài truyền cho ông Ca Diếp được thừa hưởng Y, Bát của Ngài và khuyên tất cả đệ tử phải lấy giới luật làm thầy.

2)   Ngài muốn thâu nhận người đệ tử sau cùng tên là Tu Bạt Đà La (Subhadda) bởi v́ ngoài Đức Phật ra không c̣n ai có thể cảm hóa nổi ông ta.

3)   Ngài muốn nhục thân Xá Lợi chia thành 8 phần cho 8 vị Quốc vương lớn ở Ấn Độ.

Sau khi dặn ḍ cặn kẻ xong, Ngài tắm rữa lần cuối cùng trên ḍng sông Kakuttha, rồi bảo ông A Nan làm chiếc giường cho Ngài nghĩ. Đầu Ngài hướng về phía bắc và Ngài nằm nghiêng giữa hai cây Long Thọ. Ngài lặng lẽ nhập định, tuần tự trải qua các cấp thiền từ thấp tới cao, rồi từ cao tới thấp và cuối cùng chủ động để nhập diệt. Lúc bấy giờ là nhằm nữa đêm ngày rằm tháng hai âm lịch. Rừng cây Long Thọ (Sal-trees) tuôn hoa  đỏ thắm phủ lên thân Ngài.

Đức Phật thọ 80 tuổi. Các vị đệ tử tẩm liệm xác Ngài vào kim quan và họ đợi 7 ngày sau khi ngài Ca Diếp trở về từ chuyến đi truyền đạo.

Họ bắt đầu làm lễ  trà tỳ (lễ hỏa thiêu) cho Đức Phật và đúng như lời dạy của Phật, họ đem nhục thân Xá lợi chia thành 8 phần cho 8 vị Quốc vương lớn ở Ấn Độ.

Có một điều khá tế nhị là sau khi Đức Phật nhập diệt, Ngài đại đệ tử Ca Diếp đă triệu tập 500 vị đại A la hán để cùng nhau kết tập pháp thân Xá lợi của Phật. Đó là bộ tam kinh: Kinh Tạng, Luật Tạng và Luận Tạng, mà không quan tâm, để mặc cho đệ tử phàm phu tranh nhau lấy nhục thân Xá Lợi của Phật. Vậy chúng ta có thể thấy, nhục thân Xá Lợi chỉ có kẻ phàm phu mới quan trọng, c̣n bậc Thánh lại không quan tâm bởi v́ đối với họ giải thoát sinh tử mới là điều tối thượng.

Đức Phật đă đem ánh đạo vàng đến cho nhân loại, nhưng cuộc đời của Ngài có thể tóm gọn một cách giản dị như sau:

§       Ra đời bên cạnh một gốc cây

§       Thành đạo bên cạnh một thân cây

§       Và ĺa đời ở giữa hai nhánh cây.

Next


Home • Pháp Âm • Kinh Sách • Kinh Tụng • H́nh Ảnh • Thỉnh Kinh • Ấn Tống • Video • Liên Lạc


Chúng sinh vô-biên thệ nguyện độ, Phiền năo vô-tận thệ nguyện đoạn,
Pháp môn vô-lượng thệ nguyện học, Phật đạo vô-thượng thệ nguyện thành.

Nam Mô A Di Đà Phật