![]()
Home •Pháp Âm •Kinh Sách •Kinh Tụng •H́nh Ảnh •Thỉnh Kinh •Ấn Tống •Video •Liên Lạc Giới Thiệu Kinh Hoa Nghiêm
Kinh Hoa Nghiêm là một trong những bộ kinh quư giá nhất của Đại Thừa. Chính bộ kinh nầy do Đức Phật Thích Ca thuyết giảng ngay sau khi Ngài thành Chánh giác. Trong khoảng 49 ngày ngồi tư duy dưới gốc cây Bồ đề, Ngài ở trong định “Hải Ấn Tam Muội” và hiện ra thân tướng Pháp Thân Đại Nhật Như Lai mà nói ra bộ Kinh Hoa Nghiêm nầy để hóa độ cho các vị Bồ tát từ ngôi Sơ Địa trở lên. Đức Phật nói Kinh Hoa Nghiêm trong 21 ngày, nhưng Ngài nói ở đây là nói trong thiền định bởi v́ 21 ngày của cuộc sống vật chất theo đời thường th́ tất nhiên quá ngắn ngủi. C̣n 21 ngày của tư duy thiền định th́ thật lớn lao không thể nào tính được. Một tâm niệm trong thiền định, Bồ Tát có thể cứu độ được vô số chúng sanh. Cũng v́ ư nghĩa quá cao siêu đó nên Kinh nầy đă không được cho phổ biến mà đem đi cất giữ tại cung điện của Long Vương. Cho măi đến khoảng 600 năm sau khi Đức Phật nhập diệt, th́ có Bồ tát Long Thọ ra đời. V́ do ḷng khao khát cầu Chánh pháp, Ngài đă dùng thần thông xuống tận Long Cung và lưu lại đây trong 90 ngày để đọc tụng sao chép và mang về san định lại rồi cho phổ biến bộ kinh vĩ đại nầy.
Thật ra Kinh Hoa Nghiêm có tất cả ba bộ:
1. Bộ thứ nhất gọi là Đại Hoa Nghiêm do Pháp thân Tỳ Lô Giá Na chuyển.
2. Bộ thứ hai là Trung Hoa Nghiêm do Báo thân Lô Xá Na chuyển.
3. Bộ thứ ba do chính Đức Thích Ca Mâu Ni Phật thuyết.
V́ hai bộ đại kinh và trung kinh quá đồ sộ , không thể đem về, nên Ngài Long Thọ chỉ thỉnh được bộ Tiểu Hoa Nghiêm gồm có 100,000 bài kệ. Nhưng khi về đến nhân gian, th́ Ngài lọc lại chỉ c̣n non một nửa là 45,000 bài kệ mà thôi. Khi bộ Tiểu Hoa Nghiêm nầy truyền sang Trung Quốc, th́ được dịch thành hai bộ mà ngày nay chúng ta c̣n thấy được: Bộ Hoa Nghiêm 60 quyển do ngài Giác Hiền dịch đời Tấn (418 T.L) tại chùa Đạo Tràng ở Dương Châu (nay là Nam Kinh) và bộ 80 quyển dịch ở đời Đường, dưới sự bảo trợ của Vơ Tắc Thiên hoàng đế tại chùa Đại Biển Không ở Lạc Dương (695 T.L). Đích thân Vơ Hậu đến dịch trường để đề tên phẩm đầu tiên. Có tất cả 38 phẩm mà trong đó phẩm “Nhập Pháp Giới” là một phẩm rất quan trọng. Phẩm nầy mô tả một mẫu người lư tưởng, Thiện Tài Đồng Tử, đă nguyện dâng trọn đời ḿnh để phụng sự Chánh pháp với giấc mơ xây dựng một cơi Tịnh Độ nhân gian để giải thoát tất cả chúng sanh ra khỏi mọi khổ đau, hệ lụy. Thiện Tài Đồng Tử đă tham cầu học hỏi với 53 vị Thiện Tri Thức, bắt đầu bằng Ngài Văn Thù Sư Lợi Bồ-tát, biểu trưng cho trí tuệ và kết thúc với hạnh Phổ Hiền Bồ-tát.
Phật nói Kinh nầy cho hàng Bồ-tát, do đó hàng nhị thừa không thể hiểu biết, huống chi là phàm phu. Chúng ta có thể hiểu đại khái là: Phật nói trong Kinh nầy cũng như là cuộc hội thảo dành cho các nhà bác học th́ người có tŕnh độ đại học trở xuống có tham dự cũng không thể nào hiểu được. Tại v́ sao? Bởi v́ Đức Phật nói Kinh Hoa Nghiêm trong thiền định, th́ Ngài dùng tâm chuyển vật. C̣n chúng ta chưa thấy tâm, th́ làm sao thấy được sự chuyển vật.
Bồ tát pháp trong Kinh Hoa Nghiêm rất cao sâu. Hàng thấp nhất là Bố-tát sơ địa cũng phải có khả năng làm vua một cơi, tức tiểu vương mới có thể hành đạo tự tại. Bồ-tát nhị địa phải là Chuyển luân Thánh Vương cai quản bốn phương thiên hạ, ai nghe đến danh cũng phải kính nể. Bồ-tát đệ tam địa phải làm vua trời Đạo Lợi, cai quản 33 từng trời. Cứ như vậy lần lên cơi Trời cao nhất là Tha Hóa Tự Tại.
Đức Phật giảng cho các vị Trời, đồng nghĩa với nhắc nhở những người có phước báo, quyền uy ở trần gian nên phát tâm làm Phật sự, để tu tạo công đức lớn lao. Nếu không, hưởng hết phước rồi đọa, lúc đó không c̣n điều kiện tạo công đức. Giống như vua Tần Bà Sa La bị vua A Xá Thế nhốt vô ngục rồi mới phát tâm.
Kinh Pháp Hoa và Hoa Nghiêm là hai bộ kinh nồng cốt của Phật giáo. Kinh Pháp Hoa đặt nặng về pháp, trong khi kinh Hoa Nghiêm th́ nhấn mạnh về Phật là vị có đầy đủ tư cách để tuyên thuyết diệu pháp. Quan niệm về Đức Phật theo kinh Hoa Nghiêm tất nhiên cũng khởi đầu từ Phật nguyên thủy là Đức Thích Ca. Ngài cũng mang thân tứ đại giống như chúng ta và trăi qua quá tŕnh tu hành th́ Ngài đắc quả Vô thượng Bồ đề. Nhưng có những quan điểm nói rằng nếu Phật là người giống ta, th́ tại sao chỉ duy nhất có Phật là thành tựu quả vị toàn giác, c̣n những vị tu hành khác th́ có người thành Tổ, nhưng đa số người chẳng đạt được quả vị nào?
Để giải thích quan điểm nầy, Phật giáo bắt đầu mở tầm nh́n về chiều sâu, tức là nh́n bên trong cái thực của con người, tức là chân linh, để định giá trị khác nhau của mỗi người. Theo tinh thần ấy, kinh Bổn Sanh, Bổn Sự được h́nh thành để giải thích về vô số tiền kiếp của Phật đă xả thân hành Bồ tát đạo. Thân xác của chúng ta th́ giống như chiếc áo mặc cho chân linh và thân của chúng ta có hai phần: thân mạng hữu h́nh là mặt bề ngoài th́ gọi là Sanh thân, thân mạng vô h́nh bên trong th́ gọi là Báo thân. Theo Đại thừa, Báo thân là phước đức, là trí tuệ của Phật. Ngài giáo hóa thành tựu dễ dàng bởi v́ tất cả lời nói, hành động và việc làm đều phát xuất từ trí tuệ siêu việt cũng như đạo đức hoàn toàn thánh thiện. Do đó, chúng ta nh́n Phật qua tri thức và đức hạnh của Ngài do sự triển khai của Báo thân. Cùng ư nghĩa đó, chúng ta phải nương Báo thân Phật để tu hành nhằm mục tiêu phát triển Báo thân của chính ḿnh. Nói một cách khác, trên bước đường tu, chúng ta xem Phật, Tổ, Bồ tát làm ǵ, th́ chúng ta cũng làm như vậy để nuôi lớn Báo thân của riêng ḿnh.
Đức Phật dạy rằng ai cũng có thể thành Phật nếu tu tập cho đầy đủ tâm đại bi và viên măn hạnh Bồ tát. Nhưng trong vô lượng kiếp quá khứ, Phật, Hiền Thánh, đều trải thân hành Bồ tát đạo, làm lợi ích cho chúng sinh, mới đạt đến Vô thượng Đẳng giác. Ngày nay, nếu muốn thành tựu quả vị như Phật, th́ chúng ta cũng phải phát tâm Bồ đề và dấn thân tu Bồ tát đạo.
Tiến đến đỉnh cao của hệ thống tư tưởng nầy, kinh Hoa Nghiêm giới thiệu Đức Phật và cách tu thế nào để thành Phật, tức Bồ tát pháp. Thật vậy, Hoa Nghiêm mở ra cho chúng ta một cái nh́n phóng khoáng, theo đó không có cái ǵ không phải là Phật, đó mới là Đức Phật chân thật.
Vâng, Phật nầy chính là Phật huệ, nhưng tư tưởng đặc biệt của Hoa Nghiêm về sự hiện hữu vĩnh hằng của một Đức Phật toàn diện đ̣i hỏi chúng ta phải đạt đến một tŕnh độ nhất định nào mới có thể hiểu, sống và hành đạo như vậy.
Thêm nửa, kinh Hoa nghiêm tiêu biểu qua h́nh ảnh Phật với 10 loại thân: Ngũ uẩn thân, Quốc độ thân, Chúng sanh thân, Thanh Văn thân, Duyên giác thân, Bồ tát thân, Như Lai thân, Trí thân, Pháp thân và Hư không thân.
1. Ngũ uẩn thân: Đức Phật cũng hiện hữu từ ngũ uẩn, nhưng Ngài tiến đến quả vị toàn giác v́ Ngài không bị ngũ uẩn chi phối. Trong khi chúng sanh cũng mang thân ngũ uẩn, nhưng do bị ràng buộc triệt để nên chúng sanh luôn gánh chịu khổ đau sanh tử. Thật vậy, Đức Phật khẳng định rằng ngũ uẩn cấu tạo nên con người do đó con người bị lệ thuộc nó. Chính v́ c̣n lệ thuộc vào thân vật chất, tức sắc uẩn, cho nên chúng ta c̣n bị 4 thứ: đói, khát, nóng, lạnh hành hạ. Hương vị giải thoát đầu tiên của người đắc được sơ quả là ĺa xa được đói khát, nóng, lạnh. V́ vậy, chúng ta thấy các thiền sư trong lúc nhập định không cần ăn uống, ngủ nghĩ mà không cảm giác đói khát, mệt mỏi, bởi v́ họ đang sống với chân linh, vượt ra ngoài sự chi phối của thân xác. Chúng sanh th́ bị thân ngũ uẩn dày xéo, hành hạ, sống khổ với thân, chết cũng không yên với nó. C̣n Đức Phật th́ tự tại hoàn toàn v́ biến đổi được ngũ uẩn thành Pháp thân mà kinh điển gọi là:”Nhược năng chuyển vật tức đồng Như Lai”.
2. Quốc độ thân: là nói về sơn hà đại địa. Theo tinh thần Hoa nghiêm, nh́n sông núi hùng vĩ, ngắm ḍng suối chảy, nụ hoa mới nở, cá bơi chim lượn hay thấy tượng Phật trang nghiêm, cảnh chùa thanh tịnh, khiến ta phát tâm, đó là vô t́nh thuyết pháp. Tóm lại, loại thân h́nh thứ hai của thân Phật Tỳ Lô Giá na là trăi thân ra làm đất đai, làm cây cỏ, làm núi sông để che chở , nuôi sống cho muôn loài.
3. Chúng sanh thân: Dưới mắt người hành đạo theo tinh thần Hoa Nghiêm, th́ từ con ong, con kiến, cho đến cọng cỏ, bụi gai, không có cái ǵ mà không dễ thương, không phải là Phật. Ngược lại, đối với phàm phu th́ mọi sự vật trên cuộc đời đều chướng tai gai mắt và đây là sự ràng buộc làm cho họ khổ đau. Nói một cách khác, người thật dạ tu hành th́ dù ở bên phiến đá, cạnh ḍng suối trong núi rừng, nhưng họ cảm nghĩ nơi đó hiện diện ba đời mười phương Phật, nên họ dễ dàng tiến tu giải thoát. Nhưng nếu khởi vọng tâm đ̣i hỏi phải ở chỗ nầy mới tu được, ở chỗ kia th́ buồn khổ, th́ không thể nào sống trong Thiền môn một cách viên măn được.
4. Thanh văn thân: Từ trong chúng sanh thân, nếu nhận ra cuộc đời nầy không có ǵ bền chắc, nên khởi tâm đi t́m bằng hữu. Từ bỏ cuộc sống thế nhân, đi theo lộ tŕnh Phật đạo, mang thân tu sĩ thực hành 37 phẩm trợ đạo của Tứ Diệu Đế giữa ḷng cuộc đời, được xem như là Pháp thân của Đức Phật hay Thanh văn thân.
5. Duyên giác thân hay Bích chi Phật ẩn tu: là hàng Duyên giác thuộc tầng lớp trí thức, tinh thần rất bén nhạy. Họ quán nhân duyên để thấy được mối quan hệ giữa mọi người với nhau trong xă hội. Và theo lời Phật dạy, người nào thấy nhân duyên th́ thấy được pháp chân thật và đó là điều tiên quyết để tiến đến quả vị toàn giác. V́ vậy, hàng Duyên giác thâm nhập thiền định và nhận chân được mối quan hệ của chúng sanh trong tứ sanh lục đạo để hành xử theo đúng với lư nhân duyên ấy.
6. Bồ tát thân: Thanh văn tu hành tập thể, c̣n Duyên giác ẩn tu quan sát các pháp. Khi tổng hợp hai cách tu nầy, chúng ta có mẫu người thứ ba vừa có đạo đức, vừa có tri thức, đi vào đời độ sanh gọi là Bồ tát. Như thế th́ Bồ tát là người đem ánh sáng giác ngộ đến cho chúng sanh. Họ phát tâm Bồ đề, khởi niệm thương chúng sanh và đến giúp đỡ. Đó là do Phật lực chi phối đến.
7. Như Lai thân: Khi người tu tṛn đủ hạnh Bồ tát và tâm đại bi th́ đạt quả vị Phật, tức Như Lai thân. Với Như Lai thân, không c̣n phải dấn thân vào đời để cứu độ như Bồ tát, không phải ẩn tu như hàng Duyên giác, cũng không cần sống trong tập thể tu hành như Thanh văn. V́ Như Lai thân không từ đâu tới và cũng không đi về đâu. Chính thân đó tác động đến các loài chúng sanh và giáo hóa được tất cả mà không cần cử thân động niệm.
8. Trí thân: Khi đă thành đạt đến quả vị Như Lai, th́ lúc ấy như như bất động mà vẫn hóa độ được chúng sinh. Nên hoạt động chính của Như Lai không phải bằng thân xác vật chất, bằng ngôn ngữ b́nh thường, mà bằng trí tuệ. Dùng trí thân, tức dùng trí tuệ Như Lai tác động chúng sanh, khiến họ phát tâm Bồ đề. Tất cả pháp không có pháp nào mà trí tuệ Như Lai không chiếu tới. Trí tuệ Như Lai chiếu tới đâu, th́ biến các pháp ấy thành Pháp thân của Đức Phật. Nếu trí tuệ Phật chiếu vào một tu sĩ hay cư sĩ, tác động họ phải phát tâm, chiếu vào tất cả sự vật th́ làm vật đó biến chuyển thành pháp của Phật.
9. Pháp thân: Quang cảnh thiền môn tuy không phát ra âm thanh, nhưng tác động cho người h́nh dung ra Phật, liên tưởng đến cách sống của Ngài và họ phát tâm tu theo, tức là Pháp thân của Phật đă thuyết pháp. Thêm nữa, kinh Hoa Nghiêm quan niệm tất cả pháp, kể cả sơn hà đại địa đều nhận lực chi phối của huệ Như Lai, đều là Pháp thân Phật. Nói một cách khác, nếu có Như Lai chiếu vào th́ cục đá, miếng gỗ đều có thể biến thành Phật. Ngược lại, nếu không có huệ Như Lai chiếu vào, th́ cục đá vẫn là cục đá mà thôi. Cùng một chiều hướng đó, kinh Hoa Nghiêm chủ trương bằng mọi cách phải phát huy được Như Lai huệ để chiếu sáng vào ḷng cuộc đời, vào vũ trụ, biến tất cả thành Phật pháp.
10. Hư không thân hay tỳ Lô Giá Na thân: Tỳ Lô Giá Na dịch là Phổ quang minh chiếu, chỉ cho trí tuệ rọi vô pháp, biến thành pháp thân. Lúc ấy, trí và lư bất nhị, kết hợp thành một và đây là loại h́nh của thế giới tu chứng khó mà diễn tả bằng ngôn ngữ b́nh thường.
Mười thân Phật nói trên là một tổng thân của Tỳ Lô Giá Na Phật, kết hợp giữa chân lư và trí tuệ, từ hàng Thánh giả đến người thường trên cuộc đời cho cả hai loại hữu t́nh và vô t́nh.
Kinh Hoa Nghiêm bản dịch đời Đường được h́nh thành bởi 9 hội thuyết pháp:
v Hội thứ nhất: Phật mới thành Chánh giác tạị Bồ đề đạo tràng. Đạo tràng được trang nghiêm bằng vô lượng diệu bảo, thân Phật Giá-na vạn đức viên măn ngồi trên ṭa kim cang. Số Bồ Tát nhiều như số vi trần của mười phương thế giới. Các vi Bồ tát nói kệ hỏi Phật, Phật hiện điềm lành phóng hào quang nói kệ đáp, rồi lại hiện thần biến. Các vị Bồ tát như Nhất Thiết Pháp Thắng Âm… mỗi vị đều nói kệ ca tụng Phật. Bấy giờ, Bồ tát Phổ Hiền nhập Phật tam-muội, được chư Phật ngợi khen. Sau đó Bồ tát Phổ Hiền nói về Hoa tạng Trang Nghiêm Thế Giới Hải được trang nghiêm bằng vô lượng diệu bảo, do công đức tu hành xưa kia của Đức Tỳ-lô-giá-na. Bồ-tát Phổ Hiền lại nói đây là do tiền thân của Đức Tỳ-lô-giá-na ở đời quá khứ, lúc c̣n làm Thái tử Đại Oai Quang đă cúng dường chư Phật, đă tu vô lượng diệu hạnh, mà thành tựu được công đức trang nghiêm rộng lớn này.
v Hội thứ hai: Phật ngồi trên ṭa sen trong điện Phổ Quang Minh, hiển hiện thần biến, các Bồ tát ở khắp mười phương đều đến nhóm họp. Bồ tát Văn Thù Sư Lợi nhờ oai lực của Phật nói với các vị Bồ tát về danh hiệu Phật. Sau đó Bồ tát Văn thù nói về các tên gọi khác nhau của Tứ Diệu
Đế trong cơi Ta bà để tùy tâm chúng sanh mà khiến cho họ được điều phục. Bồ tát Văn Thù Sư Lợi cùng chín vị Bồ tát như Giác Thủ… hỏi đáp qua lại về mười minh môn Phật pháp sâu xa. Bồ tát Trí Thủ hỏi, ngài Văn Thù trả lời về 140 hạnh nguyện thanh tịnh phát khởi v́ lợi ích chúng sanh từ ba nghiệp Thân, Khẩu, Ư của Bồ tát. Sau cùng, Bồ tát Văn Thù sư lợi hỏi, Bồ tát Hiện Thủ dùng kệ đáp về các vấn đề vô lượng công đức thù thắng, tín nguyện chắc thật, định huệ thành tựu viên măn… của Bồ tát.
v Hội thứ ba: Đức Phật không rời cây Bồ đề, bay lên cung điện Đế Thích trên đỉnh núi Tu-di. Đế Thích trang hoàng cung điện để cung nghinh Đức Phật rồi cùng chư Thiên nói bài kệ ca tụng Phật. Các Bồ tát như Pháp Huệ … từ cơi nước Phật ở mười phương cũng đến nhóm họp và mỗi vị đều nói kệ ca tụng vô lượng công đức thắng diệu của Phật đă tu hành. Do oai lực của Phật, Bồ tát Pháp Huệ nhập tam-muội Vô Lượng Phương Tiện. Bồ tát Pháp Huệ xuất định nói rộng về pháp môn Thập trụ. Trời Đế Thích đến hỏi, Bồ tát Pháp Huệ tuyên thuyết về các công đức vô lượng của Bồ tát mới phát tâm Bồ đề. Phát tâm th́ có thể b́nh đẳng với Phật, cũng vô sở đắc. Sau đó, Bồ tát Pháp Huệ giảng về các pháp môn Bồ tát phát tâm phải tu và phải thành tựu như là: mười pháp an trụ, mười pháp nhập địa, mười pháp hạnh thanh tịnh, mười thanh tịnh nguyện, mười pháp viên măn đại nguyện, mười vô tận tạng…
v Hội thứ tư: Phật lên cung trời Dạ-ma. Vua trời Dạ-ma trang hoàng cung điện, thiết ṭa nghinh thỉnh Như Lai và nói kệ ca tụng Phật. Bồ tát Công Đức Lâm nhập tam-muội Thiện Tư Duy nói rộng về pháp môn Thập Hạnh và phân biệt hành tướng của mỗi hạnh. Bồ tát Công Đức Lâm lại nói với các Bồ tát về từng hành tướng thập Vô tận tạng của Bồ tát khiến cho mọi người tu hành đều thành tựu Vô tận tạng.
v Hội thứ năm: Phật lên cung trời Đầu-suất. Vua trời Đầu-suất trang hoàng cung điện để nghinh thỉnh Như Lai. Do oai lực của Phật, Bồ tát Kim Cang Tràng nhập tam-muội Trí Quang. Bồ tát Kim Cang Tràng xuất định và nói với các Bồ-tát về pháp môn Thập Hồi hướng và phân biệt giải thích hành tướng tu hành của từng giai vị.
v Hội thứ sáu: Phật ở Ma-ni bảo điện trên cung trời Tha Hóa Tự Tại. Bồ tát Kim Cang Tạng nhập tam-muội Đại Trí Huệ Quang Minh. Sau khi Bồ tát xuất định, th́ ngài giảng về Thập Địa.
v Hội thứ bảy: Phật đang ở tại điện Phổ Quang Minh. Bồ tát Phổ Hiền dùng thần lực xuất hiện và nói với đại chúng về pháp môn cao sâu của mười đại tam-muội. Đây là mười thứ thần thông kỳ diệu. Bồ tát Phổ Hiền cũng nói về mười thứ pháp nhẫn và về việc Phật v́ cởi mở sự trói buộc cho chúng sanh, nên răn dạy tâm sân hận hay làm chướng ngại trăm vạn pháp môn. Do đó cần phải siêng năng tu tập mười pháp, đủ mười thanh tịnh, mười trí rộng lớn, đắc mười thứ phổ nhập, trụ nơi mười tâm thắng diệu, được mười trí thiện xảo của Phật pháp.
v Hội thứ tám: Phật đang ở tại điện Phổ Quang Minh. Bồ tát Phổ Hiền nhập tam-muội Phật Hoa Tạng Trang Nghiêm. Từ tam-muội dậy, Bồ tát Phổ Huệ hỏi 200 vấn đề như: y chỉ của Bố tát, công hạnh của Bố tát, cho đến Phật thị hiện nhập diệt…Bồ tát Phổ Hiền dùng mười đáp một, phân biệt diễn nói 2000 pháp môn. Ngài dùng kệ tụng nói lại công hạnh tu hành của Bồ tát.
v Hội thứ chín: Phật ở rừng Thệ-đa cùng với 500 vị Đại Bồ tát như Văn Thù, Phổ Hiền…Phật dùng đại bi nhập tam-muội Sư Tử Tần Thân chiếu khắp mười phương thế giới trang nghiêm và mỗi thế giới có vô số Bố tát đến dự hội. Bồ tát Văn Thù và đại chúng giă từ Đức Phật để đi về phương Nam. Tôn giả Xá Lợi Phất cùng 6000 Tỳ Kheo cũng nhờ thần lực Phật phát tâm cùng đi về phương Nam. Sau cùng, có Thiện Tài Đồng Tử trong số 2000 người đến đánh lễ nghe pháp phát tâm cầu đạo Bồ đề. Văn Thù Sư lợi Bồ-tát chỉ dạy ngài đi tham học với 53 vị Thiện Tri Thức, từ Tỳ kheo Đức Vân đến Bồ-tát Di-Lặc, nghe nhận được vô số pháp môn cam lồ rộng lớn, sau cùng gặp Bồ tát Phổ Hiền. Từ sự khai thị của Phổ Hiền, ngài lần lượt đắc chư hạnh nguyện hải của Bồ-tát Phổ Hiền. Cuối cùng ngài chứng nhập pháp giới. Kết thúc của hội là bài nói kệ của Bồ tát Phổ Hiền ca tụng công đức rộng lớn như biển cả của Phật.
Sau cùng, dựa theo tinh thần của kinh Hoa Nghiêm, chúng ta là những Phật tử th́ phải phát Bồ đề tâm. Chúng ta học Bồ đề tâm của chính ḿnh, không học bằng vọng thức. Có nghĩa là chúng ta phải tiếp nhận tinh hoa của giáo nghĩa bằng tâm hồn thanh tịnh chứ không phải chỉ dừng lại ở phân tích hay học hiểu theo văn tự hoặc ngôn từ. Nhưng muốn tiến tới giải thoát, chúng ta trước hết cần phải phát tâm vô lượng Bồ đề. Nhưng thế nào là phát Bồ đề Tâm? Kinh Hoa Nghiêm cũng giảng rơ ràng như sau:
“Phát Bồ đề Tâm là phát tâm đại bi, v́ cứu khắp tất cả chúng sanh. Là phát tâm đại từ, v́ giúp khắp cả tất cả thế gian. Là phát tâm an lạc, v́ làm cho tất cả chúng sinh diệt mọi nỗi khổ. Là phát tâm lợi ích, v́ làm cho tất cả chúng sinh ĺa ác pháp. Phát tâm ai mẫn, v́ có ai kinh sợ th́ đều giữ ǵn. Phát tâm vô ngại, v́ rời bỏ tất cả chướng ngại. Phát tâm quảng đại, v́ tất cả pháp giới đều đầy khắp. Phát tâm vô biên, v́ khắp cơi hư không đều qua đến. Phát tâm rộng răi, v́ trí không trái với pháp tam thế. Phát tâm trí tuệ, v́ vào khắp biển nhứt-thiết-trí-huệ”.
Ngài Bồ-tát Phổ Hiền tuyên thuyết trong kinh Hoa Nghiêm về Phẩm “Nhập Bất Tư Nghị Giải Thoát Cảnh Giới Phổ Hiền Hạnh Nguyện: ”Thiện Nam Tử! trong các thứ cúng dường, Pháp cúng dường là hơn hết. Pháp cúng dường là: Tu hành đúng theo lời Phật dạy, chịu khổ thế cho chúng sanh, nhiếp thọ chúng sanh, siêng năng tu tập căn lành, không bỏ hạnh Bồ tát và chẳng rời tâm Bồ đề”. V́ thế để kết thúc kinh nên nhớ rằng: Trong trần thế dẫy đầy ngă chấp và ích kỷ nầy, thử nghĩ có cái ǵ quư đẹp thanh cao bằng hy sinh tất cả để trau dồi dời ḿnh cho trong sạnh, hầu mưu cầu hạnh phúc cho tha nhơn?
Next
Chúng sinh vô-biên thệ nguyện độ,
Phiền năo vô-tận thệ nguyện đoạn,
Pháp môn vô-lượng thệ nguyện học,
Phật đạo vô-thượng thệ nguyện thành.
Nam Mô A Di Đà Phật