Ánh Đạo Vàng

Home • Pháp Âm • Kinh Sách • Kinh Tụng • H́nh Ảnh • Thỉnh Kinh • Ấn Tống • Video • Liên Lạc


Pháp Tu Tịnh Độ 
(Pure Land) 

Đức Phật đă chế ra 84,000 pháp môn để giúp chúng sinh tùy theo căn cơ của họ mà tu luyện. Căn cơ của mỗi người cao thấp khác nhau th́ khả năng thu nhập của họ cũng không giống nhau được. Pháp môn Tịnh độ đă được chính Đức Phật chế ra để giúp đại đa số chúng sinh có thể văng sinh mà phương pháp tu hành th́ tương đối dễ dàng nhất so với các pháp môn khác. Dựa theo pháp môn nầy th́ người tu chỉ cần chú tâm niệm Phật A Di Đà th́ có thể văng sanh về Tây phương Cực lạc được.

V́ tính chất hữu hiệu của nó nên pháp môn Tịnh độ là cứu cánh cho tất cả mọi người nếu muốn thoát khỏi sinh tử luân hồi. Chính ngài Diên Thọ, tổ thứ sáu của Tịnh độ tông khuyên chúng ta như sau:

Có thiền, mà có tịnh th́ như cọp mạnh thêm sừng”.

 Ngài c̣n thiết tha khuyên:

Có thiền mà không có tịnh,

Mười người tu th́ lạc đến chín.

Ấm cảnh nếu đă hiện tiền,

Liền theo đó mà đi lẹ.

Thật vậy, chính ngài Văn Thù Bồ-tát trong kinh Quán Tam Muội cũng xác định là:

Trong các pháp môn tu, không có pháp môn nào qua môn niệm Phật. Niệm Phật là vua của các pháp môn”.

Ngoài ra, những Bồ-tát như Quán Thế Âm, Thế Chí, Di Lặc, Mả Minh, Long thọ… đều cầu sanh Cực lạc cả. Trong lịch sử Phật giáo có rất nhiều bậc chánh truyền Thiền tông nhưng v́ muốn chắc chắn để được văng sanh, cuối cùng cũng đổi sang môn Tịnh độ. Những vị đó là Thiền sư Thừa Viển, Vĩnh Minh, Phát Huệ, Thức Hiển, Triệt Ngộ, Liên Tŕ…

          Điển h́nh là trường hợp của Thiền sư Triệt Ngộ. Chính ngài đă biết trước ngày giờ ngài sẽ văng sanh nên sai đệ tử lập đàng trai và nói với họ rằng:

Hôm qua ta thấy ba vị đại sĩ là Văn Thù, Thế Chí và Quán Âm. Hôm nay lại được chính Phật đến tiếp dẫn”.

Sau đó ngài bèn kết ấn Di Đà rồi an tường mà viên tịch. Tất cả đại chúng c̣n nghe mùi hương lạ phảng phất khắp hư không. Như thế th́ văng sanh là Phật đến tiếp dẫn khi c̣n sống chớ đâu phải chờ cho đến lúc chết. Nói một cách khác là sống mà được tiếp dẫn th́ gọi là được văng sanh.

          Vậy Tịnh độ tông có những kinh sách ǵ?

        1)Kinh Vô lượng thọ: Kinh nầy chép lại 48 lời thề nguyện của Pháp tạng Tỳ kheo với Đức Phật Thế Tự Tại Vương Như Lai trước khi Ngài thành Phật A Di Đà. Ngài phát nguyện là sau khi thành Phật th́ Ngài sẽ lập ra một cơi thật trang nghiêm thanh tịnh để tiếp dẫn chúng sanh trong mười phương thế giới. Nếu chúng sanh ấy thường niệm đến danh hiệu Ngài và thường cầu được văng sanh cơi Tịnh độ của Ngài.

        2)Kinh Quán Vô lượng thọ: Kinh nầy ghi rơ 16 pháp quan và 9 phẩm để dạy chúng sinh được văng sanh về Tây phương Cực lạc.

        3)Kinh Tiểu Bổn A Di Đà: Đây là kinh nói về cơi Cực lạc trang nghiêm khiến chúng ta sanh ḷng ham mộ mà phát nguyện tu theo pháp môn “Tŕ danh niệm Phật cho đến khi Nhất tâm bất loạn” để được văng sanh về cơi nầy.

        4)Kinh Bửu Tích: Diễn tả việc Đức Phật Thích Ca thuyết pháp môn “Tŕ danh niệm Phật” cho vua cha Tịnh Phạn để ngài an tâm mà văng sanh.

        7)Kinh Đại Bổn A Di Đà: Bao gồm kinh Thập lục quan, kinh Ban Châu niệm Phật, kinh Bi Hoa, kinh Phương Đẳng, kinh Hoa Nghiêm…

Vậy có bao nhiêu cách niệm Phật?

       1)Tŕ Danh Niệm Phật: Mỗi ngày từ lúc mới thức dậy cho đến khi đi ngủ th́ chúng ta phải chuyên tâm tŕ niệm danh hiệu của Phật A Di Đà. Khi đi, khi đứng, khi nằm, khi ngồi, khi ăn và trước khi đi ngủ th́ chúng ta đừng bao giờ quên niệm Phật. Ngoài ra, chúng ta có thể theo phương pháp kinh hành niệm Phật, hoặc tọa thiền niệm Phật th́ kết quả có thể khả quan hơn. Mỗi khi niệm Phật xong th́ chúng ta phải hồi hướng cầu sanh về Tịnh độ.

       2)Quán Tượng Niệm Phật: Chúng ta phải chú tâm chiêm ngưỡng và quan sát các tướng tốt mà liên tưởng đến các đức tánh của Phật. Chẳng hạn như chiêm ngưỡng đôi mắt của Phật th́ liên tưởng đến trí tuệ của Phật. Khi chiêm ngưỡng nụ cười hiền ḥa của Phật th́ chúng ta liên tưởng đến tánh từ bi hỷ xả  của Phật. Nhờ sự liên tưởng nầy mà các đức tính tốt của Phật như từ bi hỷ xă, b́nh đẳng, lợi tha được thấm nhuần vào tâm của chúng ta. Nếu làm được như vậy th́ càng ngày tâm của chúng ta sẽ được thanh tịnh. Chúng ta có thể lọc sạch những niệm ác và sẽ giống tâm Phật, dĩ nhiên sau đó chúng ta sẽ được văng sanh về cơi Phật. 

       3)Quán Tưởng Niệm Phật: Mặc dầu trước mắt không có tượng hay ảnh của Phật nhưng chúng ta liên tưởng như có Đức Phật A Di Đà cao lớn đứng trên ṭa sen và phóng tỏa hào quang như tấm lụa vàng bao phủ cả thân h́nh. Chúng ta ngồi ngay thẳng và hay tay chắp lại để tưởng ḿnh đang ngồi trên đài sen và đang được Đức Phật tiếp dẫn. Chúng ta chăm chú măi măi như thế như khi đi, đứng, nằm, ngồi cũng không dừng nghĩ cho đến khi nào mở mắt hay nhắm mắt cũng đều thấy Phật. Lúc đó th́ chúng ta đă thuần thục và khi lâm chung chắc chắn sẽ được văng sanh về Tịnh độ.

       4)Thật Tướng Niệm Phật: Khi mà niệm Phật đă đến bản thể chơn tâm. Chơn tâm không sanh diệt, không khứ lai, không hư và không giả.

       5)Tham Cứu Niệm Phật: Chúng ta phải tham khảo, cứu xét, suy niệm câu niệm Phật. Chẳng hạn như khi niệm:” Nam mô A Di Đà Phật” th́ chúng ta phải quan sát câu niệm nầy từ đâu mà đến và sau đó sẽ đi về đâu? Niệm đây là ai niệm? Nhờ vào sự chuyên tâm chú ư tham khảo cầu niệm Phật như thế cho nên vọng tưởng dần dần ch́m lặng và cưối cùng chúng ta có thể đạt được “Nhất tâm bất loạn”. Dĩ nhiên, đến khi lâm chung, chúng ta sẽ được văng sanh về cảnh giới Cực lạc.

Tóm lại: “ Người niệm Phật đến khi hết vọng tưởng và ngộ nhập được chơn tâm rồi th́ Phật A Di Đà hay cảnh Tịnh độ cũng chỉ ở nội tâm ḿnh hiện ra chứ không phải đâu xa”. Bởi vậy, kinh Phật mới nói rằng:”Tự tánh Di Đà, duy tâm Tịnh độ” là vậy.

Trong môn Tịnh độ nầy th́ lấy tâm tín nguyện mà chuyên tŕ danh hiệu Phật. Tŕ cho đến lúc nhất tâm bất loạn th́ sự nghiệp tu Tịnh độ đă đến chổ thành tựu và sẽ được văng sanh.

Muốn tu theo những pháp môn khác th́ chúng ta phải sám hối hết tất cả những tội nghiệp hiện tại cũng như trong quá khứ bằng không th́ sự tu đạo sẽ gặp nhiều chướng ngại. C̣n người tu tịnh độ th́ được mang cả nghiệp mà văng sanh.  Và đây được gọi là đối nghiệp văng sanh. Thêm nữa, chí tâm mà niệm một tiếng Phật th́ có thể diệt được tội nặng sanh tử trong mười kiếp vậy.

C̣n một điều quan trọng khác là một khi tu những pháp môn khác th́ chúng ta phải đoạn trừ mọi phiền năo. C̣n theo Tịnh độ tông th́ chúng ta chỉ cần tu tịnh nghiệp là được ra khỏi tam giới mà không cần phải đoạn sạch phiền năo. Khi đă được văng sanh là chấm dứt sanh tử và một khi đă vào cơi Thánh rồi th́ việc tu đạo lại càng dễ dàng hơn. Lúc đó chúng ta sẽ dễ dàng tăng quả vị một khi đă có cơ hội gần gủi với chư Phật.

Lúc sắp lâm chung chúng ta phải làm ǵ?

Cổ nhân có nói:”Ta thấy người khác chết, trong ḷng cảm thấy xót xa. Chẳng phải thương cho kẻ chết mà xót xa cho chính thân ta”.

Chúng ta đă biết đời là vô thường. Của cải, tiền bạc, thân bằng, quyến thuộc cũng đều là duyên giả tạm. Sống tùy giả cảnh th́ khi chết rũ sạch không? Có biết bao người v́ luyến tiếc tiền của hoặc thân thuộc, đến khi sắp chết phải gặp bao khó khăn, không yên tâm nhắm mắt cho được. Do vậy, con người trước khi lâm chung th́ thường có những mối nghi ngờ và chính nó sẽ là

 những căn nguyên làm cản trở cho việc văng sanh của họ. Có ba mối nghi ngờ mà chúng ta cần biết đến:

       1)Nghi ngờ ḿnh mang nhiều nghiệp nặng mà thời gian tu hành ít nên lo sợ không được văng sanh: Họ quên rằng Đức Phật A Di Đà từng có lời thệ nguyện:”Chúng sanh nào chí tâm muốn về miền Cực lạc th́ niệm danh hiệu Ngài đến mười niệm. Nếu không được văng sanh,  Ngài thề không thành Phật”. Phật không bao giờ nói dối. Mười niệm là thời gian tu hành rất ngắn mà c̣n được văng sanh huống chi chúng ta niệm c̣n hơn số đó. Hơn nữa, dầu kẻ nghiệp nặng đến đâu mà nếu chí tâm sám hối nương về Phật A Di Đà th́ Ngài sẽ tiếp dẫn.

       2)Nghi ngờ ḿnh bản nguyện chưa trả xong, tham, sân, si chưa dứt th́ lo sợ không được văng sanh: Nói về đạo th́ có người nguyện cất chùa, hay nguyện tụng kinh bao nhiêu số nhưng chưa đạt được th́ sắp lâm chung. Phật dạy: “Chỉ tín tâm niệm Phật khi được văng sanh sẽ làm vô lượng vô biên công đức. C̣n bản nguyện chỉ là việc nhỏ, làm xong hay chưa xong không mấy quan hệ và chẳng có hại chi cả”. Bây giờ nói về đời: Có người lo cho cha già mẹ yếu suy tàn không có người chăm sóc. Lo cho vợ dại con thơ thiếu chỗ nương tựa hoặc có kẻ thiếu nợ chưa kịp trả. Tâm nguyện của họ chưa vẹn nên ḷng chưa yên. Phật lại dạy rằng:” Lúc ta sắp chết, dù có lo hay không, cũng chẳng làm ǵ được. Chi bằng chuyên tâm niệm Phật th́ khi được văng sanh về Tây phương th́ tất cả mọi bản nguyện trái duyên đều có thể trả xong. Tất cả kẻ oán người thân đều có thể được cứu độ”.

       3)Nghi ngờ ḿnh niệm Phật mà Phật không đến rước th́ không được văng sanh: Người niệm Phật tùy theo công đức của ḿnh nên khi lâm chung th́ thấy Phật, Bồ-tát, hay Thánh đến rước. Có khi không thấy chi nhưng nhờ sức nguyện tinh tấn của ḿnh và Phật lực thầm giúp đở cho nên thần thức tự bay về Tây phương Cực lạc.  Chỉ cần lúc ấy họ phải chí tâm niệm Phật chớ đừng nghĩ ngợi chi khác. Nếu nghi ngờ sẽ tự sanh ra chướng ngại.

C̣n một điều nữa là trong gia đ́nh từ cha mẹ, anh em, vợ chồng, con cái đều là do đời trước có nợ nần, ân oán nên kiếp nầy mới tạm hội ngộ nhau mà thôi. Khi nhân duyên đă hết th́ mỗi người đi mỗi ngă. Nếu có ḷng thương là tốt hơn chúng ta nên gác bỏ t́nh cảm trần gian để cầu sanh về Tây phương cực lạc. Khi cái chết sắp đến, dù có quyến luyến cũng không thể đem theo, không làm chi được. Bởi v́ chính xác thân của chúng ta cũng phải tan về cát bụi. Nếu luyến ái th́ khó mà được văng sanh lại bị khổ luân hồi vô cùng vô tận.

Có nên khóc lóc cho người thân khi họ sắp chết không?

Theo Phật giáo, khi có người sắp chết th́ thân bằng quyến thuộc không nên khóc lóc và cũng đừng lộ nét bi thương.  Bởi v́ lúc bấy giờ người sắp chết đă đi đến ngă rẽ phân chia giữa quỉ, người và Thánh. Đây là giây phút quan trọng nhất trong cuộc đời của họ chẳng khác nào ngàn cân treo dưới sợi tóc. Chúng ta chỉ chí tâm trợ niệm Phật A Di Đà là tốt nhứt. Dẫu người có chí nguyện văng sanh mà bị thân quyến thương khóc làm cho khởi động niệm t́nh ái th́ tất bị đọa luân hồi. Do đó bao nhiêu công phu tu luyện đều phí cả. Nên nhớ khi người sắp măn phần th́ họ cần sự trợ niệm của chúng ta bởi v́ lúc nầy từ tinh thần đến thể chất của họ đều yếu kém mê mờ, khó mà tự chủ cho được. Chúng ta nên thỉnh tượng hay h́nh Đức Phật A Di Đà để trước mắt họ cho họ nh́n thấy. Sau đó cắm một b́nh hoa tươi và đốt vài nén nhang. Bởi v́ khói thơm vừa thoáng để tiến đến chánh niệm cho họ. Chúng ta vẫn tiếp tục thay phiên nhau hay cùng nhau niệm Phật A Di Đà cho họ.

Làm ǵ khi họ mới tắt hơi?

Một điều thật quan trọng là khi họ mới tắt hơi th́ không nên vội di động thân thể của họ cho dù có dơ dáy. Trước và sau khi chết, người thân không được khóc mà chỉ tiếp tục niệm Phật A Di Đà. Phải đợi 8 tiếng đồng hồ sau mới được đụng xác họ bởi v́ trong khoảng thời gian nầy th́ người chết vẫn c̣n cảm giác. Tuy họ đă chết, nhưng A-Lại-Da thức c̣n chưa ra khỏi xác thân họ. A-Lại-Da thức là thần thức đă giữ ǵn tất cả những nghiệp thức của họ đă tao ra khi c̣n sống trong kiếp nầy và của kiếp trước dựa theo nghiệp lực để dẫn họ đi đầu thai khi có đủ nhân duyên.

Việc ǵ sẽ xảy ra cho họ khi mà họ mới lâm chung?

Có ba trường hợp xảy ra cho người vừa mới lâm chung:

1) Những người khi c̣n sống tạo ra rất nhiều thiện nghiệp, làm lành tránh dữ th́ sẽ sinh lên cơi trời tức th́ sau khi chết. Nhưng nên nhớ cơi trời ở đây vẫn nằm trong lục đạo, có nghĩa là chúng ta chưa thoát ra khỏi ṿng sanh tử.

2) Những người lúc sinh thời tạo quá nhiều ác nghiệp thành thử nghiệp quả của họ quá nặng do đó khi chết họ sẽ bị đọa tức th́ vào đường súc sanh, ngả quỷ hay địa ngục.

3) Những người tu tịnh nghiệp sẽ được văng sanh về Tây phương Cực lạc.

Ngoài ba trường hợp trên th́ người chết phải đợi trong ṿng 49 ngày để thần thức hội đủ tất cả các nhân duyên rồi mới được chuyển sinh tùy theo nghiệp thức của họ.

V́ thế từ lúc mới chết cho đến khi đi đầu thai là khoảng 49 ngày thành thử cách tốt nhất là trong khoảng thời gian nầy chúng ta liên tiếp tụng, niệm Phật để trợ lực thêm cho họ. Nếu ho sinh vào cơi trời , nhờ sự trợ lục nầy họ có thể tăng thêm phước lạc. Nếu họ bị đọa vảo ba đường dữ, nhờ sự trợ lực nầy, họ cũng giảm đi nỗi khổ đau và cải thiện sự đầu thai của họ. C̣n như họ đă sinh về cơi Phật th́ phẩm sen cũng được nâng cao.

C̣n việc cúng tế th́ sao?

Chúng ta là người Phật tử th́ chỉ nên cúng kiến những món chay mà thôi. Khi phải sát sinh để cúng cho họ th́ chẳng những chúng ta tự ḿnh tạo ra ác nghiệp mà c̣n gieo nghiệp ác cho người quá văng nữa. Như vậy có thể cản trở cho việc văng sanh của họ.

Chúng ta phần lớn hấp thụ giáo lư Khổng Mạnh nên thường tổ chức cúng giỗ cho ŕnh rang. Bởi v́ Đức Khổng Tử nói rằng: “Thờ cha kính mẹ lúc c̣n sống cũng như khi chết”. Nhưng khi hỏi th́ con người sẽ đi về đâu sau khi chết th́ Ngài trả lời:”Việc sống c̣n không biết hết, th́ việc chết miễn bàn”. Thật vậy, Đạo Khổng chỉ dạy con người một đời mà thôi có nghĩa là từ lúc sinh ra đến lúc chết. Nếu cho rằng cúng tế thật ŕnh rang để tỏ ḷng hiếu để đối với người chết th́ thật là bất hiếu. Tại sao vậy? Bởi v́ nếu lúc cha mẹ c̣n sinh tiền không giúp họ tu nhân tích đức, tu đạo để được văng sanh th́ là con bất hiếu rồi. Đến khi họ chết th́ lo cúng giỗ cho lớn nhưng nếu họ chứng được th́ là nguy to. Tại sao?  Bởi v́ sau bao năm mà họ không đầu thai được chỗ nào tức là không được siêu thoát th́ họ đă thành ma đói rồi. Thật là một điều thê thảm. C̣n nếu họ không chứng th́ ḿnh cúng lớn là để ḿnh ăn cho sướng mà thôi.

Mỗi năm nhân mùa Vu lan báo hiếu th́ thường thường chúng ta về chùa để cầu nguyện cho ông bà quá văng. Đây là dựa theo chuyện của ngài Mục kiền Liên ngày nọ để cứu mẹ là bà Thanh Đề ở dưới địa ngục. Nếu chúng ta đă học qua Phật pháp th́ người con có hiếu là không phải đợi đến rằm tháng bảy mới lo cho cha mẹ. Lo như vậy là đă quá trễ rồi. Đó là con bất hiếu chứ đâu phải là hiếu tử. Nếu muốn báo hiếu cho cha mẹ th́ từ đây phải khuyến khích họ cùng chúng ta để lo tu học, niệm Phật, tạo nhiều công đức và phước đức. Nên làm lành tránh dữ th́ dù chúng ta không  đến chùa vào lễ Vu lan nhưng chắc chắn tương lai của họ cũng như của ḿnh sẽ  vô cùng sáng sủa. Đây là cách báo hiếu chân thật.

Niệm Phật tam muội.

          Người niệm Phật khi đạt đến chỗ tuyệt đỉnh tận cùng th́ sẽ thấy cảnh hư linh sáng lạng và vọng giác tiêu tan. Lúc đó họ sẽ quên hết thân tâm ngoại cảnh, không c̣n ảnh hưởng thời gian không gian và tâm thể bừng sáng để chứng vào cảnh giới “vô niệm vô bất niệm”. Không niệm mà niệm, không thấy biết mới là sự thấy biết chân thật bởi v́ có thấy biết tức là lạc theo trần giới. Đến đây th́ nước bạc non xanh, suối reo chim hót và tâm quang sáng chói.

          Có bốn môn niệm Phật tam muội là:

I.                        Bát chu tam muội: Bát chu có nghĩa là Phật lập. Khi thực hành môn nầy th́ chúng ta phải lấy 90 ngày làm một định kỳ. Trong thời gian ấy, ngày đêm chúng ta chỉ đứng hoặc đi, lúc nào cũng tưởng Đức Phật A Di Đà hiện thân với 32 tướng tốt và 80 vẻ đẹp. Khi công thành th́ chúng ta sẽ thấy Đức Phật A Di Đà và chư Phật mười phương hiện ra đứng trước mặt chúng ta để khen ngợi. Người tu môn nầy th́ khi đi, mỗi bước đều không rời danh hiệu Phật. Pháp môn nầy công đức rất cao nhưng chỉ dành cho những bậc thượng căn mà thôi.

II.                        Nhất hạnh tam muội: Nhất hạnh có nghĩa là chuyên nhất về một môn mà thôi. Khi tu theo môn nầy th́ chúng ta thường ngồi và chỉ chuyên nhất quán tưởng hoặc niệm danh hiệu Đức A Di Đà. Mặc dầu tu một môn nhưng công phu thật viên hạnh. Môn nầy th́ dành cho mọi người.

III.                        Pháp hoa tam muội: Đây là một trong 16 tam muội như kinh Pháp Hoa Diệu Âm Bồ-tát đă nói. Khi tu theo môn nầy th́ chúng ta có thể  thay đổi giữa ngồi và đi để quán Phật hoặc niệm Phật cho đến khi nào chứng nhập vào Chánh định. Phép tu nầy th́ có phần dễ hơn Nhất hạnh tam muội ở trên.

IV.                        Tùy tự ư tam muội: tu theo pháp môn nầy th́ tùy tâm mà đi đứng, nằm ngồi để niệm danh hiệu Phật A Di Đà cho đến khi vào tam muội. Lối tu nầy con được gọi là :”Lưu thủy niệm Phật”. Cũng như ngọn nước của ḍng sông cứ kiên tục chảy măi, dầu gặp cây đá ngăn cản th́ nó chỉ dội lại rồi cũng t́m lối chảy đi. Người tu theo lối nầy th́ cứ mỗi buổi trưa lễ Phật A Di Đà bốn mươi tám lạy. C̣n Quán Thế Âm, Thế Chí và Hải Chúng mỗi danh hiệu bảy lạy. Sau đó quỳ xuống để sám hối. Rồi từ đó cho đến tối, lúc đi đứng nằm ngồi đều niệm Phật. Họ có thể lần chuỗi ghi số, hoặc niệm suông, cho đến khi đi ngủ. Trước khi đi ngũ th́ lễ Phật một lần nữa và đem công đức tu trong ngày mà phát nguyện hồi hướng văng sanh. Pháp tu nầy tuy tùy tiện dễ dàng nhưng phải tránh bớt duyên và cố tâm bền bỉ mới mong thành tựu.

                 Vội vội vàng vàng khổ nhọc cầu

                   Mưa mưa nắng nắng trải xuân thu

                   Hôm hôm sớm sớm lo sinh kế

                   Lăng lăng quên quên thấy bạc đầu

                   Thị thị phi phi không kết liểu

                   Phiền phiền năo năo những bi ưu

                   Rành rành rơ rơ một đường đạo

                        Vạn vạn ngàn ngàn chẳng chịu tu.

Cho nên chúng ta phải tu, phải lo niệm Phật:

Nắm lấy chuổi tràng trần niệm dứt

Nghiễm nhiên thành Phật đă lâu rồi”

 

Phần Tóm Lược

          Ngày nay rất nhiều người tu Tịnh độ, lễ bài rất chuyên cần mà vẫn không đạt kết quả bao nhiêu? Họ đi chùa lễ Phật , tham dự nhiều Phật thất năm nầy qua năm khác mà chứng nào vẫn tật nấy…Tại sao?

          Đối với Tịnh độ th́ người tu phải nắm vững những nguyên tắc căn bản rất quan trọng là chí tâm chí thành mà thường được gọi là Tín, Hạnh, Nguyện thay v́ thực hành như một thói quen máy móc nên không có kết quả bao nhiêu.

          Nên nhớ Tịnh độ không những chú trọng đến tha lực (Phật lực A Di Đà) mà c̣n đ̣i hỏi cả công phu về tự lực nữa. Quy tắc căn bản về pháp môn niệm Phật là phải biết nghiêm tŕ sáu căn: Mắt, Tai, Lưỡi, Mũi, Thân, Ư và ba nghiệp: Thân, Khẩu, Ư cho thật thanh tịnh để lúc niệm Phật được nhất tâm. Đây chính là phần tự lực mà con người phần lớn bỏ quên đi không chú ư đến. Khi niệm Phật, hành lễ mà thấy tự tâm tha thiết mạnh mẽ, không hề có vọng tưởng th́ có thể cảm thông được với chân tâm của chư Phật trong Pháp giới. Thật ra tâm Phật và tâm của chúng sinh không hề khác nhau, đều cùng một Bản Thể, nhưng v́ chúng sinh chưa ư thức được điều nầy v́ c̣n bị vô minh che phủ nên mới có sự phân biệt, xa cách. Thêm nữa, chúng sinh từ vô thỉ đến nay đă gây ra biết bao tội ác cho nên dù công phu tu tập đến đâu cũng khó mà giải trừ hết nghiệp chướng trong một đời nên phải nhờ oai lực của câu niệm Phật để tiêu trừ bớt nghiệp giúp cho tín căn, tín lực gia tăng mà được văng sinh. Đó là phần tha lực.

          C̣n về phần tự lực th́ khi người niệm Phật th́ họ biết giữ sao cho mắt đừng bị chi phối bởi ngoại cảnh, đừng nh́n ngang nh́n dọc làm cho tâm sinh loạn tưởng. Muốn tâm được thanh tịnh th́ phải biết làm chủ sáu căn của ḿnh. Khi niệm Phật th́ mắt chỉ chăm chú nh́n lên tượng Phật hoặc giữ h́nh ảnh của Phật A Di Đà trong tâm mà thôi. Mắt không nên nh́n chung quanh rồi tâm sinh vọng động để rồi suy nghĩ, lo lắng đủ điều th́ làm sao có thể đạt được trạng thái nhất tâm bất loạn được. Niệm tới đâu phải biết tới đó, niệm một câu biết một câu, niệm mười câu biết mười câu chớ không lầm lẫn hoặc lầm lạc.

        Khi niệm Phật đừng để cho tai nghe những tiếng động khác chung quanh mà làm cho tâm ư khởi vọng động. Các căn c̣n lại như mũi, lưỡi, thân, ư cũng phải kiểm soát như thế th́ vọng động không xen vào trong tâm thức của người niệm Phật. Khi tất cả sáu căn được thu nhiếp và được đặt dưới sự kiểm soát của tâm để không c̣n vọng động, không c̣n loạn tưởng th́ đạt được Nhất Tâm Bất Loạn. Nếu nghĩ lại đây là Chánh Niệm của người tu Tịnh độ và đây cũng chính là Chánh Niệm của người tu thiền. Phương tiện tuy có khác nhưng mục đích nào có khác ǵ đâu.

        Trong ba nghiệp th́ Ư Nghiệp là mạnh nhất. Ư là nhân mà thân khẩu là quả của nó. V́ thế đối với người tu Tịnh độ th́ ít ai có thể kiểm soát được nên người niệm Phật phải trông vào tha lực của chư Phật hộ tŕ cho. Nếu người niệm Phật chí tâm chí thành niệm danh hiệu Phật A Di Đà th́ tâm vọng tưởng, tâm điên đảo, tâm nghĩ ngợi lung tung sẽ từ từ tan biến và được thay bằng bản tâm thanh tịnh. Oai lực của sáu chữ hồng danh rất lớn, bất khả tư ngh́ cho nên nếu người niệm Phật nhất tâm tŕ tụng th́ có thể khắc phục được Ư Nghiệp của ḿnh. Khi ba nghiệp Thân-Khẩu-Ư được thanh tịnh, sáu căn không c̣n dính mắc th́ trí tuệ sáng suốt và chắc chắn sẽ được văng sanh về cơi Tây phương Cực Lạc.  

          Tóm lại pháp môn Tịnh độ bao gồm cả tự lực lẫn tha lực, tuy giản dị nhưng công năng vô cùng huyền diệu. Muốn tu theo pháp môn nầy mà không nắm vững quy tắc căn bản là nghiêm tŕ sáu căn và ba nghiệp th́ cho dù họ có đọc tụng thiên kinh vạn quyển, niệm muôn trùng biến th́ cũng chẳng có lợi ích bao nhiêu. Rất nhiều người cho rằng tu Tịnh độ chỉ trông nhờ vào tha lực tiếp dẫn của Phật A Di Đà mà thôi th́ cũng là một thiếu sót. Bởi v́ thiếu tự lực th́ không thể được nhất tâm. Mà không nhất tâm th́ làm sao thông cảm được với chân tâm của chư Phật. Thêm nữa, một số người niệm Phật để cầu phước hay để xin xỏ việc nầy việc nọ th́ cũng là đi ngược lại với đường lối của Tịnh độ bởi v́ niệm Phật mà thiếu tâm thành chỉ mong cầu nầy nọ tức là tâm vẫn c̣n tham th́ làm sao có kết quả được. Đối với người tu Tịnh độ th́ họ không cần xin ǵ ngoài việc văng sinh về cơi Tây phương mà thôi.

          V́ Tịnh độ bao gồm cả tự lực và tha lực nên Tịnh gồm cả Thiền và Mật. Đó là người tu phải ư thức hành vi cử chỉ của ḿnh và vừa tha thiết niệm hồng danh Phật A Di Đà để cầu văng sinh. Pháp môn nầy do chính Đức Phật Thích Ca nói ra và chư Phật mười phương đều tán thán. Ngay cả Bồ-tát Di Lặc chỉ c̣n một đời nữa sẽ thành Phật mà c̣n ngày đêm hành lễ th́ đủ biết tầm quan trọng và công năng của nó như thế nào.   

Chúng ta niệm danh hiệu Phật A Di Đà để dẹp trừ vọng tưởng chấp trước bao nhiêu đời . V́ thế một câu niệm Phật như cầm chổi quét sạch vọng tưởng. Niệm măi không quên khiến vọng niệm tự tiêu trừ. Sáng niệm Phật, tối niệm Phật. Đi đứng nằm ngồi trong 24 tiếng niệm niệm không quên. Thầm thầm lặng lặng, công phu thuần thục chín mùi th́ cảnh Tây phương Cực lạc hiện trước mắt, được lợi ích vô biên.

Next

Home • Pháp Âm • Kinh Sách • Kinh Tụng • H́nh Ảnh • Thỉnh Kinh • Ấn Tống • Video • Liên Lạc


Chúng sinh vô-biên thệ nguyện độ,
Phiền năo vô-tận thệ nguyện đoạn,
Pháp môn vô-lượng thệ nguyện học,
Phật đạo vô-thượng thệ nguyện thành.

Nam Mô A Di Đà Phật
Web Designer Email: adida_phat@msn.com Có ư kiến xin email Diệu mỹ