
Vô Thượng Niết Bàn
Bát Nhă Tâm Kinh Thường Lạc Ngă Tịnh
Tác giả Lê Sỹ Minh Tùng
Mục
Lục
<------- Xin Bấm Vào
”Chư Phật ra đời chỉ v́ một đại sự nhân duyên là khai thị chúng sinh ngộ nhập Phật tri kiến”.
Kinh Pháp Hoa.
“Bản lai diện mục, Niết Bàn diệu tâm”
Kinh Hoa Nghiêm
” Đức Phật nói pháp nhiều vô lượng là v́ độ tất cả tâm phiền năo của chúng sinh, c̣n Ngài không có tâm phiền năo nên không cần tất cả pháp. Sở dĩ Ngài nói như vậy là v́ Đức Phật đă sạch hết phiền năo nên không cần pháp, như người hết bệnh không cần thuốc”.
Lục Tổ Huệ Năng.
”Tất cả chúng sinh đều có đầy đủ trí tuệ của Như Lai, nhưng v́ vọng tưởng, chấp trước che lấp nên không nhận ra. Nếu ĺa vọng tưởng th́ Nhất thiết Trí, Tự nhiên Trí, Vô ngại trí hiển bày”.
Kinh Hoa Nghiêm
Lời mở đầu
Từ ngàn xưa chư Phật ra đời nhằm một mục đích là giáo hóa chúng sinh với ḷng bi nguyện thắm thiết đều muốn cho tất cả thoát ly mọi cảnh giới phiền năo khổ đau và đồng hướng cảnh thanh tịnh an vui giải thoát. Nhưng muốn thực hiện cảnh giới thanh tịnh an vui giải thoát th́ cốt yếu là chúng sinh phải được thanh tịnh như trong kinh nói “Tùy Kỳ Tâm Tịnh, Tắc Phật Độ Tịnh”.
Sở dĩ thân Phật rực rỡ và cảnh Phật trang nghiêm cũng đều do công đức diệu dụng của bản tâm thanh tịnh lưu xuất. Bản tâm ấy, chúng sinh vốn sẵn có, cũng như chư Phật, không hai không khác, nhưng từ lâu cứ mê chấp, đắm nhiễm theo trần duyên mà không hiển bày được đó thôi.
V́ thế lời nói đầu tiên sau khi Đức Thế Tôn thành đạo dưới cội Bồ-đề là:”Thật kỳ diệu thay trong tất cả mọi chúng sinh đều có Phật tánh, nhưng v́ bị vô minh nên họ không nhận ra điều ấy”. Phật tánh là tính thanh tịnh bản nhiên của tất cả chúng ta và tính thanh tịnh bản nhiên nầy chính là hiện tượng “trùng trùng duyên khởi” nghĩa là sự ảnh hưởng dây chuyền của một sự vật duyên với tất cả sự vật và của tất cả sự vật duyên với một sự vật hay là một là tất cả và tất cả tức là một. Đức Phật thuyết pháp tùy theo căn cơ của chúng sinh cho nên giáo pháp của Phật có khi cao, khi thấp khác nhau, nhưng cho dầu Phật có dạy tam quy, ngũ giới, thập thiện, tứ diệu đế, thập nhị nhân duyên hay dạy về pháp-tánh, pháp-tướng, tâm tính, chân như, chân không, thật tánh và thật tướng th́ Đức Thế Tôn luôn luôn nhằm mục đích chỉ bày cho chúng sinh chứng ngộ trí tuệ bát nhă cũng như Ngài.
Con người v́ bị mê vọng nên lầm tưởng thân nầy là thật, thế gian vũ trụ là thật nên sống trong điên đảo khổ đau. Cho nên Phật dạy rằng:”Phàm sở hữu tướng, giai thị hư vọng. Nhược kiến chư tướng, phi tướng tức kiến Như Lai” có nghĩa là phàm cái ǵ có h́nh tướng th́ cái đó không thật, là giả dối và tướng hư vọng tức là “nhơn không” c̣n chẳng phải tướng mới là “pháp không”. Do đó sắc thân có tướng nên nó là hư vọng c̣n pháp thân không có tướng nên gọi là pháp không. V́ thế nếu chúng sinh muốn thoát khỏi khổ ách để sống trong an vui tự tại th́ phải biết rằng:”vạn pháp giai không” tức là trên thế gian nầy không có cái ǵ là thật cả mà “tam không” trong bát nhă chính là nền tảng để nhắc nhở cho chúng sinh đạt được cứu cánh nầy.
Đó là khi học Phật pháp th́ không nên chấp có ta là “nhơn không” mà đă hiểu đạo rồi cũng không nên chấp có pháp là “pháp không” và tuy chúng ta không chấp nhơn, không chấp pháp nhưng vẫn c̣n chấp không nên cuối cùng cũng không chấp cái không là “không không” th́ mới đúng với đạo lư “tam không” của nhà Phật. Thế gian vạn vật hữu h́nh, hữu hoại cho nên thân tứ đại giả huyễn tất phải hoàn trả về tứ đại đất, nước, gió, lửa, tro bụi ngay cả Đức Phật cũng an nhiên tự tại xóa bỏ báo thân nhục thể để ḥa cùng đại thể pháp thân chân thường của chư Phật.
Phật dạy lư chơn không bởi v́ con người chấp có. Cho nên người hiểu đạo th́ thấu lư không mà lúc nào cũng tạo nhân lành, gây thêm thiện nghiệp c̣n người phàm phu th́ chấp cái lư không nên xa lánh điều lành và tạo lắm điều ác nghiệp bởi v́ họ không biết rằng hữu vi là Dụng của vô vi và vô vi chính là Thể của hữu vi vậy. Cũng như những làn sóng nhấp nhô của đại dương, đợt sóng nầy tan th́ đợt sóng khác đến để tạo thành cái Dụng của nước mà tính nước th́ muôn đời bất biến và đây chính là Thể của nước vậy. Những làn sóng thủy triều gào thét, lặn hụp lên xuống cũng như những sự biến đổi của pháp hữu vi và thể nước trầm lặng thanh tịnh ở dưới ḷng đại dương cũng như pháp vô vi mà thôi.
Đời đang đắm ch́m trong biển khổ mênh mang mà bây giờ nếu chúng ta chịu quay về sống với chân lư “nhất như” th́ phiền năo tức Bồ-đề và sanh tử tức Niết bàn. Do đó nếu chúng ta biết buông xả và luôn giữ chánh niệm để sống với cái thực tánh thanh tịnh của ḿnh ngỏ hầu biến phiền năo khổ đau thành Bồ-đề và sanh tử thành Niết bàn th́ ở đâu cũng có Bồ-đề và ở đâu cũng có Niết bàn cả.
Phật pháp là vô-thượng tối thâm vi-diệu, cao chẳng cùng, sâu không chỗ tột, mà hễ đạo lư càng sâu th́ kinh điển lại càng khó diễn. Huống chi quyển sách sách nầy là giáo lư tối thượng đại thừa thật siêu thắng, ít có, khó gặp sẽ mang lại cho con người những phương pháp hoàn toàn cứu cánh. Mà đạo Phật là đạo chú trọng thực hành chớ không phải lư thuyết suông cho nên càng đọc, càng gẫm, càng thực hành th́ chúng ta sẽ thấy đầy tính cách từ-bi vô ngại rộng lớn bao la của tâm hồn lợi tha triệt để. Tâm kinh sẽ hướng dẫn mọi người đi đến mục đích cao cả, thoát hẳn muôn sự mê lầm đen tối của tâm hồn chấp trước, ích kỷ, nhỏ hẹp và hành vi khổ lụy.
V́ thế chúng tôi tha thiết mong sao chư quư độc giả cần xem và cần đọc cho được nhiều lần để suy xét cho tột cùng và t́m thấu cái ư vô vi huyền diệu ngỏ hầu noi theo chánh pháp mà thực hành để mang lại cảnh an vui tự tại cho ḿnh trong đời này và Niết bàn cho mai sau th́ mới thật là đọc kinh cầu lư.
Bản-nguyện chúng tôi th́ lớn, nhưng năng lực c̣n có hạn do đó cho dù chúng tôi đă cố gắng hết sức ḿnh vẫn không sao tránh khỏi những thiển kiến sai lầm, trông mong thập phương thiện tri thức phê b́nh giúp đỡ cho chúng tôi có cơ hội báo ơn Tam-bảo trong muôn một.
Washington mùa Xuân năm Đinh Hợi 2007
Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật
Lê Sỹ
Minh Tùng
“Đuốc Tuệ Đưa Đường Về Chánh Giác”

Đạo Phật là con đường để dẫn dắt chúng sinh đến chỗ giải thoát giác ngộ. Chính Đức Phật đă dạy rằng:”Ngă dĩ thành Phật, nhữ đương thành Phật” tức là Ta là Phật đă thành c̣n chúng sinh là Phật sẽ thành. Lời Phật dạy là chân lư. Ư Phật muốn nói là trong tất cả chúng ta ai ai cũng đều có cái Phật tính thanh tịnh, nhưng v́ vô minh che lấp nên cái Phật tính nầy bị lu mờ làm cho con người luôn sống trong điên đảo nên phải quay cuồng trong lục đạo luân hồi
Con người do vô minh mà sanh ḷng tham dục v́ thế Phật dạy chúng sinh muốn đạt đến tŕnh độ vô thượng chánh đẳng chánh giác, tức là thành Phật, th́ phải phá cho được hai chướng ngại: đó là lư chướng và sự chướng. Vô thượng chánh đẳng chánh giác từ Phạn kinh là Anuttara-samyak-sambodhi mà Hán tự dịch là A-nậu-đa-la tam-miệu tam-bồ-đề.
1) Lư chướng: có nghĩa là vô minh. Chính cái vô minh nầy đă dẫn dắt con người từ chỗ mê lầm nầy đến sự đắm mê khác. Vô minh chẳng khác nào một màn mây đen hút làm che đậy ánh sáng của mặt trời. Cái thật th́ con người cho là giả c̣n cái giả th́ tin là thật. Con người không thấy được chánh tri, chánh kiến th́ làm sao thấy được chân lư của nhân sinh vũ trụ. Chẳng hạn thuyết nhân quả là chân lư có nghĩa là ḿnh tạo nhân ǵ th́ chính ḿnh phải nhận lấy cái quả ấy thế mà nhiều Phật tử lại tin rằng cho dầu ḿnh có tạo nghiệp ǵ đi nữa mà nếu cầu nguyện trời Phật th́ mọi chuyện cũng qua.
Đây là tà kiến cũng bởi v́ vô minh mà ra. Nên nhớ rằng chính Đức Phật kiếp trước lỡ tạo ra khẩu nghiệp mà đến khi thành Phật rồi cũng phải trả cái quả nghiệp nầy bằng cách phải ăn lúa mạch dành để nuôi ngựa đến ba tháng mới xong. Tôn giả Mục Kiền Liên kiếp trước làm nghề chài lưới giết hại quá nhiều chúng sanh đến kiếp nầy mặc dù đă tu thành thánh mà c̣n phải trả cái nghiệp cũ bằng chính mạng sống của ḿnh th́ không một ai có thể giải sao cúng hạn hay cầu an cầu siêu cho ta cả. Vô minh là v́ không thấu hiểu chân lư mà dựa vào tà kiến để biến cuộc sống thêm điên đảo khổ đau. Chúng ta nên tư duy quán chiếu những chân lư của Phật th́ vô minh từ từ tan biến. Đó là văn như tư và tư như tu vậy.
2) Sự chướng: có nghĩa là phiền năo. Con người v́ ḷng thương ghét, tánh tham tật đố, chạy theo lục dục, thất t́nh mà tạo ra phiền năo rồi phải lăn lộn trong sanh tử luân hồi. Cái phiền năo nó đeo đuổi con người từ kiếp nầy sang kiếp khác. Mỗi khi lục căn tiếp xúc với lục trần th́ vọng tưởng dấy lên và ái dục chính là cội nguồn tạo ra phiền năo. Ái là nhân mà dục chính là quả của nó. Ái là thích c̣n dục là muốn chiếm hửu. Do đó cái ái mà không phá được th́ không bao giờ thoát ra khỏi lục đạo luân hồi. Trong Kinh Pháp Cú Đức Phật có dạy:” Đốn cây mà không đào gốc th́ nhánh nẩy sanh hoài” v́ thế nếu ái dục không trừ dứt th́ khổ năo sẽ theo ta măi măi. Thật vậy con người bắt đầu từ cái “thích” mới dẫn đến cái “muốn” hay nói một cách khác là từ “si” dẫn đến “tham” để tạo khổ cho ḿnh và cho người.
Cho nên kinh Phật mới có câu:”Tùng tham dục khởi”
là vậy. Như khi ta thấy một chiếc xe mới thật đẹp, một cái nhà thật sang
hay một cái TV Plasma hạng bự làm chúng ta thích thú. Đây chính là Ái.
Bởi quá thích nên chúng ta muốn chiếm hửu những cái đó. Vậy muốn có
nghĩa là dục và là động lực chính để tạo ra nghiệp khổ cho con người.
C̣n chính bản thân của chúng ta cũng vậy. Hễ có thân là có ái. Bởi v́
“ái thân” có nghĩa là yêu thương chính cái bản thân của ḿnh cho nên
chúng ta muốn thân được ăn ngon, mặt đẹp và tệ hại hơn nữa chứng ta c̣n
tranh công đoạt chức cho thân được hănh diện. V́ vậy Ái chính là cội gốc
của luân hồi. Vậy tiến
tŕnh từ phàm phu đến A La hán, Duyên Giác, Bồ Tát và Phật như thế nào?
1) Phàm phu: Nếu chúng ta không phá nổi vô minh và không đoạn trừ được phiền năo có nghĩa là không giải được lư chướng và sự chướng th́ vĩnh viễn sẽ làm kiếp chúng sinh. Đời nầy qua th́ đời khác đến, trôi nổi măi măi trong lục đạo luân hồi.
2) A La Hán hay hàng Duyên Giác: Nếu chúng ta từ bỏ được tham dục có nghĩa là đoạn tất cả mọi phiến năo th́ sự chướng không c̣n. Đến đây th́ tất cả kiến hoặc và tư hoặc ngay cả vi tế hoặc cũng không c̣n trong quư vị nữa th́ chứng được quả vị A La Hán hay Bích Chi Phật của hàng Duyên Giác. Thanh Văn là nhiều người cùng tu với nhau và họ dùng chân lư Tứ Diệu Đế để trừ phiền năo mà đạt được Niết bàn. C̣n Duyên Giác là người tu hành đơn độc có khi nơi rừng cao núi thẳm hoặc chốn thanh tịnh nào. Khi thấy cảnh lá rụng, cây héo lá vàng mà nghĩ đến thân họ cũng vô thường như vậy nên phát tâm tu luyện. Họ dùng chân lư thập nhị Nhân Duyên làm căn bản tu hành để trừ phiền năo. Họ nhận thấy rằng khi đủ nhân duyên th́ thân nầy do đất, nước, gió, lửa tạo thành, đến khi hết duyên th́ thân tan ră. V́ chán thân vô thường như thế nên họ quyết tâm tu hành cho không c̣n ái dục và đoạn được mọi phiền năo để trở thành Bích Chi Phật.
3) Bồ Tát: Trong chúng ta có hai tướng đó là tướng sanh diệt và tướng bất sanh diệt. Tướng sanh diệt th́ gọi là tướng thân sanh tử và tướng bất sanh diệt chính là pháp thân của chúng ta. Các vị A La Hán hay Bích Chi Phật chỉ thấy được tướng thân sanh tử mà không thấy được pháp thân của họ. V́ thấy được tướng sanh diệt là đáng chán đáng ghét, không mến không yêu và chính là cội nguồn của đau khổ nên họ dứt được sự chướng. Họ dứt được sự chướng mà không thấy được pháp thân cho nên lư chướng vẫn c̣n. Riêng hàng Bồ Tát th́ họ chẳng những đoạn được mọi phiền năo mà họ c̣n thấy được một phần pháp thân của họ có nghĩa là họ phá được một phần vô minh. Do đó nếu chúng ta thấy được một phần pháp thân của ḿnh th́ thành Bồ Tát. Càng phá được nhiều vô minh th́ họ càng chứng được quả vị cao của Bồ tát.
4) Phật: Người nào đoạn được hoàn toàn sự chướng và lư chướng có nghĩa là họ không c̣n phiền năo, vô minh và tâm thường trụ Niết bàn th́ người đó là Phật.
Phật pháp th́ cao siêu và vượt ra ngoài ngôn từ và suy nghĩ nhưng v́ tŕnh độ của chúng sinh có sai khác nên có các quả Thánh hiền sai khác chớ không phải Phật pháp có sai khác. Ví dụ như ba con thú qua sông. Con sông là Phật pháp, không cạn không sâu. Con dê nhỏ th́ lội ngập đầu, ví như hàng Tiểu thừa. Con nai lớn hơn th́ lội ngập cổ, ví như hàng Trung thừa, Duyên giác. C̣n con voi th́ lội ngập ống chân, ví như hạng Đại thừa.
Như thế th́ tùy theo khả năng đoạn trừ phiền năo và vô minh của chúng sinh mà Phật giáo được chia làm ngũ thừa: nhân thừa, thiên thừa, tiểu thừa, duyên giác và cuối cùng là đại thừa tức là Bồ tát hay Phật. Tuy nói là ngũ thừa nhưng đây chỉ là phương tiện để chúng sinh dựa theo đó làm nền tảng tu hành mà thôi.
1) Nhân thừa: Dựa theo Phật giáo th́ chúng sinh chỉ cần thọ tam quy và tŕ ngũ giới th́ bảo đảm sẽ trở lại làm người. Nhưng v́ c̣n nằm trong tam giới nên con người lúc nào cũng bị lửa phiền năo thiêu đốt và mây vô minh che lấp nên đau khổ gắn liền với con người triền miên măi măi. Đối với họ hạnh phúc nhất thời tạm bợ chỉ là những dục lạc của thế gian tuy bên ngoài được che lấp bằng những màu sắc rực rỡ huy hoàng nhưng thực ra bên trong chất chứa toàn đau khổ tang thương.
2) Thiên thừa: Nếu chúng sinh thấy rằng dục lạc của thế gian không bền chắc, đáng chán và là cội nguồn tạo ra nghiệp để chịu quả khổ về sau nên họ bỏ ác làm thiện. Chỉ cần tu theo thập thiện th́ sẽ được sanh lên cơi trời để hưởng phước lạc. Tuy thọ mạng ở cơi trời rất dài nhưng nó vẫn c̣n nằm trong lục đạo luân hồi v́ thế nếu hưởng quá nhiều phước lạc sanh ra mê th́ dễ dàng bị đọa. Trong kinh Đại Bát Niết Bàn kể rằng:” Có một vị vua Chuyển Luân Thánh Vương tên là Đảnh Sanh. V́ nhà vua có đủ phước đức nên muốn ǵ được nấy. Một ngày đó ông nguyện nếu như tôi thật là Chuyển Luân Thánh Vương th́ cho mưa bảy ngày, bảy đêm toàn là vàng bạc, châu báu để dân chúng tôi được sung túc giàu sang.
Thế là trời mưa làm dân ông giàu có. Thấy lời nguyện đầu thành công, ông liền ước chinh phục các nước liên bang. Rồi ông cũng toại nguyện. Những nước láng giềng tất cả đều qui hàng ông. Sau đó ông nguyện được lên chơi cơi trời Đế Thích. Lúc ấy trời Đế Thích đang ngồi trong pháp đường nói chuyện với quần chúng, thấy ông lên liền nhường nữa ṭa cho ông ngồi. Thấy cơi trời Đế Thích đẹp quá, ông liền nguyện:” Ngồi nữa ṭa th́ rất thích nhưng chưa hoàn toàn thỏa chí, chi bằng xô ông Đế Thích nầy xuống để chiếm toàn ṭa th́ ḿnh sẽ sung sướng biết bao”. Niệm xấu vừa xuất hiện xong th́ ông liền bị rớt ngă xuống cung điện của ông ở cơi Ta Bà. Sau đó trước khi ông hấp hối sắp chết, quần thần hỏi:” Bệ hạ có điều ǵ trăn trối không?” Ông buồn bả đáp:”Ta chỉ có một điều cuối cùng muốn nói là: “Vua Đảnh Sanh v́ ḷng tham vô đáy nên mới bị cái họa ngày nay”.
Khi nói về cơi trời th́ kinh Phật có câu:”Cập Thích Đề Hoàn Nhân đẳng, vô lượng chư thiên đại chúng câu” có nghĩa là ngoài vua trời Đế Thích th́ trên cơi thiên có rất nhiều cơi trời khác. Ngoài cung trời Đạo Lợi mà ngày xưa Đức Phật lên đó để thuyết pháp cho Hoàng Hậu Ma Da c̣n có 4 cơi Dục giới là Dạ Ma, Đầu Xuất, Hóa Lạc và Tha Hóa cộng thêm 18 cơi trời Sắc giới và 4 cơi Vô Sắc giới. Như vậy có tất cả 26 cơi trời bắt đầu từ 2 cơi trời Dục giới ở núi Tu Di và 26 cơi trời ở trên Hư Không. Hiện nay Bồ Tát Di Lặc hiện đang ở trên cơi trời Đầu Xuất.
3) Tiểu thừa: Khi đă đoạn được mọi phiền năo để tâm hoàn toàn thanh tịnh th́ đạt đến cảnh của tiểu thừa. Các vị A La Hán đă đoạn trừ xong cái mầm sanh tử nên thoát ra khỏi tam giới và vĩnh viễn không bị chi phối trong lục đạo luân hồi. Trong Kinh Pháp Bảo Đàn, Lục Tổ Huệ Năng dạy:”Người tu phải biết phản quan tự kỷ, tức là phải nh́n lại ḿnh”. Đây là chủ yếu của đạo Phật có nghĩa là tu phải phát khởi từ tự tâm của mỗi người để đạt được tâm thanh tịnh bởi v́ nếu tâm không thanh tịnh th́ vô minh, vọng tưởng sẽ dấy lên. Do đó trong Kinh Lăng Nghiêm Phật lại dạy rằng:”Chơn như bất thủ tự tánh hốt nhiên bất niệm vô minh khởi” có nghĩa là chân như hay chơn tâm mà không giữ tự tánh th́ nó sẽ sanh ra vô minh.
Khi đă chứng quả A La Hán th́ kinh Phật dạy rằng:”Giai thị đại A La Hán, chúng sở tri thức” có nghĩa là những bậc A La hán có đủ những đức tính như sau:
- Ứng cúng: Ứng có nghĩa là viễn ly, xa ĺa phiền năo để đem lại an lạc cho ḿnh và độ cho người. C̣n cúng là thọ dụng sự cúng dường. Nói một cách khác là khi chứng được quả A La hán th́ họ đem đạo lư và trí tuệ đă chứng mà cung cấp, cúng dường cho tất cả mọi người. Đây là quả Khất Sĩ.
- Sát tặc: có nghĩa là giết hết giặc phiền năo. Đây là quả Phá Ác.
- Vô Minh: có nghĩa là không c̣n sinh tử nữa. Họ thật sự đă thoát ra khỏi tam giới. Đây là quả Bố Ma.
Ngoài ra quả A La Hán là quả thứ tư của hàng Thanh Văn. Đó là Tu Đà Hoàn, Tư Đà Hàm, A Na Hàm và cuối cùng là A La Hán. Thanh Văn có nghĩa là nghe tiếng thuyết pháp của Phật rồi từ đó tư duy quán chiếu tu tập mà thành đạo.
4) Trung thừa hay hàng Duyên giác: Khi các vị Bích Chi Phật đă tu luyện theo pháp thập nhị Nhân Duyên để ĺa xa được phiền năo và tâm hoàn toàn thanh tịnh th́ họ trở thành Bích Chi Phật. C̣n các Ngài trong hàng Thanh Văn thấy Khổ Đế và Tập Đế là mầm của đau khổ nên dùng Đạo Đế để tiêu trừ nó mà đạt được Niết Bàn tức là Diệt Đế. Dứt được sanh tử để đạt được Niết Bàn có nghĩa là các Ngài chỉ mới trừ được sự chướng, tức là dứt phiền năo mà thôi.
5) Đại thừa: Nếu đoạn được lư chướng và sự chướng th́ vào được cảnh giới của Bồ Tát. Bồ Tát cũng được gọi là từng phần giác có nghĩa là nếu họ phá được một phần vô minh th́ chính họ đă giác ngộ một phần pháp thân. Họ phải trải qua 55 quả vị của Bồ tát bắt đầu từ Thập Tín, Thập Trụ, Thập Hạnh, Thập Hồi Hướng, Tứ Gia Hạnh, Thập Địa và sau cùng chứng quả Đẳng giác tức là Phật. Khi Bồ Tát đoạn được hoàn toàn sự chướng và lư chướng có nghĩa là họ đă đoạn mọi phiền năo và phá tất cả mọi vô minh th́ họ vào được “Viên giác Vi diệu của Như Lai có đầy đủ Bồ-đề và Niết Bàn” tức là Phật. Phật được gọi là Giác giả và có 3 thân là Pháp Thân, Báo thân và Ứng Thân.
-Pháp Thân chính là tự tánh thân và là pháp giới chơn tịnh của các Đức Như Lai lan tỏa trong khắp cả không gian làm sở y b́nh đẳng cho Báo thân và Ứng thân. Pháp thân là thể tánh thanh tịnh có đầy đủ công đức, thật tánh b́nh đẳng của tất cả các pháp. Thọ mệnh của Pháp thân không có lúc bắt đầu, tức là vô thỉ, và không có lúc cùng tận, tức là vô chung. Đại Nhật Như Lai hay Tỳ Lô Giá Na chính là Pháp thân của Phật. Do đó Chư Phật ngày nay thường trụ trong tâm của tất cả chúng sinh và hiện hữu vĩnh hằng ở khắp mọi nơi chính là Pháp thân Tỳ Lô Giá Na mà thôi. V́ thế nếu chúng sinh cảm nhận Pháp thân Phật th́ ở đâu cũng có Phật và bất cứ lúc nào cũng có Phật trong tâm của chúng ta. Rất nhiều người lầm tưởng rằng chỉ ở trong chùa hay trên bàn thờ mới có Phật. Đức Phật Thích Ca Mâu Ni chỉ là một ứng thân của Phật để độ chúng sinh 2500 năm về trước mà chúng ta thờ phượng là để kính trọng Đức Thế Tôn là vị thầy cao cả đă dùng chánh pháp để d́u dắt chúng sanh sang bờ giác ngộ. Ngày nay trong không gian vô tận và thế giới vô biên chỉ có Pháp Thân Tỳ Lô Giá Na của Phật mà thôi.
-Báo Thân hay Thọ dụng thân là thân của các Như Lai do thành tựu công đức tu hành trải qua ba đại kiếp mà được.
-Ứng Thân hay Biến hóa Thân là thân chư Phật do trí thành sở tác mà biến hóa ra thành vô lượng thân, ứng theo căc cơ của chúng sinh mà hóa độ. Chẳng hạn như Đức Phật Thích Ca Mâu Ni là Ứng thân của Phật trong cơi Ta Bà nầy.
Trong mỗi vị Phật phải có tất cả 10 trí lực của Như Lai, đó là: Như Lai, Ứng-cúng, Chánh-biến-tri, Minh-hạnh-túc, Thiện-thệ, Thế-gian-giải, Vô-thượng-sĩ, Điều-ngự Trượng-phu, Thiên-Nhơn-Sư, Thế Tôn và Phật.
-Như Lai (Itipi so Bhagava): là bản thể của tự tánh cùng khắp không gian, bất khứ bất lai và đúng như bổn lai nên gọi là Như Lai. Tự thể Pháp thân chẳng động chẳng dời là “Như”. Trí quang chiếu khắp bi tâm độ sanh là “Lai”. Toàn thể như như bất động, tùy duyên đến hóa độ trong muôn loài, đến trong muôn loài mà vẫn như như bất động nên gọi là Như Lai.
-Ứng cúng (Araham): Pháp thế gian đều gọi là oan gia cho nên Đức Như Lai ứng hiện dùng trí tuệ để phá hoại bốn thứ ma nên gọi là ứng. Ứng là xa ĺa phiền năo. Chư Phật v́ chúng sinh mà thọ những khổ năo nhưng mà thường vui nên gọi là ứng. Sau cùng ứng cúng là xứng đáng hưởng sự cúng dường của người, trời cùng Hiền Thánh.
-Chánh-Biến-Tri (Sammasambuddho): là cái biết cùng khắp không gian và thời gian chẳng có năng sở đối đăi, tức là cái biết bản thể Phật tánh. Nếu cái biết bản thể Phật tánh cùng khắp thời gian th́ chẳng sanh diệt nên gọi là Niết Bàn. C̣n khắp không gian th́ chẳng khứ lai nên gọi là Như Lai. Nói một cách khác Chánh biến tri là trí Phật thấu biết tất cả hoàn toàn như thật.
-Minh-Hạnh-Túc (Vijjacarana sampanno): là có trí tuệ và công hạnh viên măn tức là người đă hoàn măn trí tuệ và công hạnh tu tập.
-Thiện-Thệ (Sugato): là người hoàn tất việc của ḿnh một cách thiện hảo, tức là tự giác và cũng là người đă làm xong tất cả mọi việc từ giác tha đến giác hạnh viên măn đến thế gian độ sanh mà không bị thế gian làm ô nhiễm.
-Thế-Gian-Giải (Lokavidu): là trí hiểu biết thông suốt cả mọi sự vật trong thế gian và xuất thế gian.
-Vô-Thượng-Sĩ (Anuttaro): là không có một người nào cao cả hơn Ngài về những đức tính đặc biệt cũng không có ai sánh bằng Ngài. Nói một cách khác Vô Thượng Sĩ là không c̣n ai trên nữa.
-Điều-Ngự Trượng-Phu (Puridomma Saràthi): có đủ những tài năng khôn khéo điều khiển và ngự phục mọi loài chúng sinh vào con đường thiện. V́ thế Điều ngự trượng phu là đấng có đầy đủ đức tướng tài năng để điều ḥa những chúng sinh nhu thuận và ngự phục những chúng sinh can cường.
-Thiên-Nhơn-Sư (Satthà-devamanussànàm): là đấng đạo Sư của tất cả trời và người.
-Thế Tôn (Bhagavati): là đấng được thế gian tôn trọng.
-Phật (Bhuddho): là bậc hoàn toàn giác ngộ hay c̣n được gọi là giác giả. Đức Phật có đủ 10 đức hiệu ở trên và là đấng tôn quư cao thượng nhất trong thế gian và xuất thế gian.
-Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác: là chỗ giác ngộ của Phật không c̣n ai hơn nữa nên gọi là Vô thượng. Xa ĺa tà vọng th́ gọi là Chánh và ngộ được chân lư nên gọi là Giác. Phát tâm vô thượng chánh đẳng chánh giác là phát tâm mong cầu có trí giác vô thượng, quả Phật cứu cánh.
Dựa theo pháp quán nầy th́ chúng ta phải hiểu rằng trong con người của Đức Phật không có con người khổ hạnh, cũng không có con người hiền thiện già nua để phải chịu quay cuồng trong lẽ vô thường của tạo hóa, đó là thành, trụ, hoại, không. Không những thế mà Đức Phật cũng không phải là Ngài Cù Đàm, một con người không phải là một người duy lư và dĩ nhiên cũng không không phải là một xuất thân của vị Thiên Chủ đă chứng đắc Niết Bàn. Mà thật ra Đức Phật chính là sự tổng thể của tất cả những đức tính vi diệu trên cũng như một giọt nước cam không thể nào là toàn thể những ǵ chứa trong trái cam chưa bóc vỏ.
Phật Nhiên Đăng (Dipankara) là vị Phật đă thọ kư cho Đức Thích Ca khi đó chỉ là một nhà tu khổ hạnh trẻ tuổi có tên là Thiên Tuệ (Sumedha) sau nầy sẽ trở thành Phật với danh hiệu là Thích Ca Mâu Ni. Một ngày nọ, Phật Nhiên Đăng hiện ra thân tướng một tỳ kheo già đi từ xa đến và trên đường đi Ngài thấy có một vũng lầy chắn ngang. Lúc đó Đức Thích Ca đang hành Bồ-tát đạo và phát tâm giúp đỡ mọi chúng sinh nên khi thấy vị tỳ kheo già không đi qua vũng lầy được bèn lấy thân nằm ngay chỗ có bùn nước đặng lót đường cho vị tỳ kheo già đi qua. Tuy nhiên, phía trước vẫn c̣n một đoạn nữa mà thân của tỳ kheo Thiên Tuệ chưa đủ để che kín nên Ngài bèn lấy tóc xơa ra và đắp vào chỗ có nước và bùn rồi sau đó mới mời vị tỳ kheo già đi qua. Vị tỳ kheo già nể ḷng mà bước qua. Lúc ấy tỳ kheo Thiên Tuệ tu khổ hạnh đầu đà nên không cắt tóc. Sau khi bước lên ḿnh tỳ kheo Thiên Tuệ, Phật Nhiên Đăng bèn lấy tay xoa đầu Đức Thích Ca và nói rằng:”Ông cũng như vậy, tôi cũng như vậy, ông ở đời sau sẽ thành Phật hiệu là Thích Ca Mâu Ni”.
Nếu tính từ cổ-Phật Thích Ca tới Bảo Tích Như Lai th́ trong thời gian nầy có tất cả bảy mươi lăm ngàn vị Phật và được gọi là A-tăng-kỳ kiếp thứ nhất. Từ Bảo Tích Như Lai đến Nhiên Đăng Như Lai có bảy mươi sáu ngàn vị Phật và khoảng thời gian nầy gọi là A-tăng-kỳ kiếp thứ hai. Từ Nhiên Đăng Như Lai đến Thánh Quan Như Lai có bảy mươi bảy ngàn vị Phật và khoảng thời gian nầy gọi là A-tăng-kỳ kiếp thứ ba. Chính Đức Thích Ca đă tu trong ba đại kiếp A-tăng-kỳ mới thành Phật.
Con người bị lửa phiền năo thiêu đốt và mây vô minh che lấp nên phải lặn hụp trong triền miên đau khổ. Chân lư của Đức Phật chính là nước cam lồ để dập tắt tất cả lửa phiền năo và cũng chính là vầng hào quang sáng chói để xé tan đám mây vô minh hắc ám ở trong tâm khảm của chúng ta. Phật pháp sẽ dẫn dắt chúng sinh ra khỏi biển phiền năo trầm luân để biến cuộc đời đau khổ nầy thành cảnh an vui tự tại. Một khi phiền năo không c̣n dính liền với con người th́ Niết Bàn sẽ xuất hiện và đây chính thật là cơi Cực Lạc trong trần thế vậy.
Thật vậy có giải thoát mới đến được chỗ giác ngộ. Thế th́ nếu con người muốn giải thoát ra khỏi tam giới hay lục đạo luân hồi để không c̣n vướng bận trong ṿng sinh tử th́ họ phải giải thoát hoàn toàn ra khỏi mọi hệ lụy của phiền năo khổ đau.
Nhưng tại sao con người có phiền năo khổ đau?
Phiền năo khổ đau đă gắn liền với chúng ta từ lúc con người có mặt trên thế gian nầy. Hễ có nhân loại là có khổ đau. Không phải Đức Phật Thích Ca là người đă tạo ra thế gian và dĩ nhiên Ngài cũng không phải là người đầu tiên nhận biết đời là biển khổ. Nhưng chính Đức Phật là người đầu tiên đă khai thị tại sao con người dính liền với phiền năo khổ đau. Đức Phật đă thấy biết sự vận chuyển tuần hoàn của nhân sinh vũ trụ và đây chính là cứu cánh của chân lư tối thượng để đưa con người từ bờ mê đến bến giác. Toàn bộ chân lư của Đức Phật không ngoài mục đích hướng dẫn con người đi đúng với sự vận chuyển của nhân sinh vũ trụ mà thôi. Cái mà Ngài gọi là:”Tùy thuận chân lư”. Do đó nếu chúng sinh sống tùy thuận với chân lư th́ sẽ không c̣n đau khổ, ngược lại nếu con người bị vô minh che lấp và sống ngược lại sự sinh tồn của vũ trụ th́ phiền năo khổ đau chắc chắn họ sẽ đeo mang.
Vậy thế nào là tùy thuận chân lư?
Đă là con người th́ không một ai thoát khỏi cảnh sinh, lăo, bịnh, tử. Có ai trẻ măi mà không già? hoặc có người nào sống đời mà không chết? Như thế th́ nếu chúng ta biết con người sanh ra rồi phải lớn lên, mà hễ có thân là có bệnh. Cuối cùng già nua rồi cũng phải chết. Một khi chúng ta hiểu thấu và không phàn nàn mỗi khi có bịnh, không phàn nàn hay đau khổ khi thấy ḿnh mỗi ngày một già đi và không sợ hăi hay đau khổ khi sắp chết th́ chúng ta đang sống tùy thuận chân lư vậy. Chẳng hạn như có người chèo thuyền ngược ḍng sông th́ dĩ nhiên người đó phải vất vả, khổ nhọc c̣n người chèo thuyền xuôi theo ḍng nước th́ nhẹ nhàng thanh thoát. Tùy theo ḍng nước th́ an vui c̣n ngược chiều nước th́ cực nhọc khổ đau. Cuộc sống con người th́ cũng thế đă biết đời là vô thường, tâm là vô ngă mà cứ nhắm mắt chạy theo dục vọng để chuốc lấy khổ đau c̣n kẻ thấu hiểu lư không th́ họ luôn sống trong an vui tự tại.
Triết lư của Đức Phật được chia làm hai phần là thế gian và xuất thế gian.
1) Pháp thế gian: c̣n được gọi là pháp sinh diệt hay pháp hữu vi. Pháp thế gian gồm có vô thường, đau khổ (vô lạc), vô ngă và bất tịnh (vô tịnh).
2) Pháp xuất thế gian: c̣n được gọi là pháp bất sinh diệt hay pháp vô vi. Đó là thường, lạc, ngă, tịnh hoặc là chơn thường, chơn lạc, chơn ngă và chơn tịnh.
Pháp Thế Gian
Theo Phật giáo th́ sự cấu tạo và sinh tồn của tất cả vạn pháp trong vũ trụ là do tự kỷ nhân quả mà thành chớ không phải là do một đấng thiêng liêng nào tạo ra hay là do một phép mầu nhiệm nào kết cấu cả. Cái quả hiện tại là do cái nhân ở đời trước chuyển đến và cái nhân ở đời trước là do cái quả ở những đời trước nữa. Tiến tŕnh nầy tiếp tục và cứ tiếp tục đi ngược trở lên măi. Nhân nầy quả nọ, không cùng không tận. Do đó vũ trụ đối với Phật giáo không có cái ban đầu tức là vô thỉ. Trong kinh Samyutta, Phật dạy rằng:
“Không thể lường được đâu là khởi thủy của ṿng luân hồi và từ đâu chúng sanh bắt đầu kiếp sống. Có điều chắc chắn là họ đă bị trầm luân sinh tử v́ vô minh và ái dục”.
Con người có thói quen là dựa theo sự nhận xét giới hạn của ḿnh mà khẳng định là cái ǵ trên thế gian nầy cũng có sự bắt đầu. Chẳng hạn như khi thấy một chén cơm trên bàn th́ họ nghĩ rằng cơm th́ do gạo và nước tạo thành. Thế th́ gạo và nước là cái bắt đầu. Nhưng họ quên rằng trước khi có gạo th́ phải gieo lúa, bón phân…và trước khi gieo lúa th́ cần phải có hạt giống…tiến tŕnh nầy nối tiếp măi không ngừng. Do đó có cái nào là bắt đầu đâu? Cái mà họ nghĩ là bắt đầu th́ chỉ là cái quả của vô số nhân từ trước tạo thành. Cũng như con gà và trứng gà th́ cái nào có trước?
Một nguyên nhân khác làm con người tin rằng vạn pháp trong vũ trụ có một sự bắt đầu là do họ có ư niệm sai lầm về quan niệm “Có” và “Không". Chẳng hạn như gần nhà chúng ta có một lô đất trống, khoảng sáu, bảy tháng sau có người cất lên đó một căn nhà nguy nga tráng lệ. Thấy thế th́ họ lư luận rằng trước kia đất hoang là Không, bây giờ xây nhà trên đó là Có. Hay là trước “Không” sau “Có” th́ “cái có” bao giờ cũng đi sau “cái không”. Thế th́ cái bắt đầu là cái Không. Nhưng mảnh đất không đâu phải là không có v́ nó không có nhà chứ không phải là Không. Nếu là Không th́ làm sao mà xây nhà trên đó được? Khi có nhà th́ chưa chắc là Có bởi v́ cái nhà chính nó không có tự tánh nên mặc dầu là Có nhưng thực chất của nó chính là Không. Bởi v́ nếu đem phân tách gạch, ngói, cây, gỗ th́ cái nhà đâu c̣n chứ không phải đợi đến khi cái nhà mục nát mới gọi là không. V́ vậy từ “cái không” thành ra “cái có” và cũng từ “cái có” trở lại với “cái không”. Vậy cái nào là cái bắt đầu? V́ thế khi Đức Phật thuyết về Luật Nhân Quả là Ngài muốn nói đến sự biến hóa vô cùng vô tận của vũ trụ dựa theo yếu tố thời gian. Bởi v́ một khi chúng ta gieo nhân th́ cái quả chắc chắn sẽ xuất hiện. Vấn đề là cái quả xảy ra sớm hay chậm mà thôi. V́ thế cổ nhân có câu:
Thiện ác đáo đầu chung hữu báo
Chỉ tranh lai táo dữ lai tŕ
Có nghĩa là:
Việc lành hay việc dữ đều có quả báo
Chỉ khác nhau là đến sớm hay muộn mà thôi.
Trong phần Tứ Diệu đế, chúng ta thấy khổ đế là quả mà nhân của nó chính là tập đế. Chính tư hoặc và kiến hoặc là những cái gốc gây ra bao sự phiền năo khổ đau cho con người để phải chịu sinh tử luân hồi. C̣n diệt đế, tức là Niết Bàn là quả và đạo đế chính là nhân của chiều giải thoát. Nhưng chân lư Tứ Diệu Đế là pháp hữu vi có nghĩa là pháp sinh diệt th́ chính nó không phải là liễu nghĩa kinh. V́ thế người tu theo pháp Tứ Diệu Đế không bao giờ thành Phật được mà chỉ đạt quả vị tối đa là A La Hán. A La hán là chỉ đoạn được phiền năo trong tâm mà thôi. Mà đoạn phiền năo tức là chứng được Niết Bàn. Do đó Niết Bàn là liễu nhân chớ không phải là tác nhân.
Có nghĩa là Niết Bàn tự nó hiển hiện trong tâm tức là pháp vô vi chớ không phải do chúng ta tạo tác tức là pháp hữu vi. Thế th́ tại sao chúng ta tu theo pháp hữu vi, tức là tu theo Tứ Diệu Đế, mà kết quả lại nằm trong pháp vô vi, tức là Niết Bàn? Nói một cách khác nhân là hữu vi mà quả lại là vô vi? Mặc dầu chúng ta dựa theo 37 phẩm của phần đạo đế để tu tập tức là chúng ta dựa theo pháp hữu vi để quán chiếu sự hư huyễn của vũ trụ, nhưng nhờ công phu tu luyện từ trong nội tâm, Niết Bàn mới xuất hiện. Thế th́ khi chứng hay cảm nhận sự thanh tịnh của tự tánh chính là pháp vô vi. V́ là vô vi nên Niết Bàn không có h́nh tướng, màu sắc, trọng lượng và kích thước…Đây chính là cái quả của sự thanh tịnh giác ngộ mà cái nhân là đạo đế. Do đó nếu chúng ta biết diệt trừ Tham-Sân-Si, ái dục để tâm được thanh tịnh th́ đâu đâu cũng có Niết Bàn và lúc nào cũng có được Niết Bàn.
Nhưng nếu chúng ta thấy được cái quả là pháp hữu vi, thế th́ cái ǵ là cái nhân của nó? Chẳng hạn như khi ngắm một đóa hoa vừa thơm vừa đẹp th́ chúng ta tự hỏi đóa hoa nầy từ đâu mà có? Thấy đóa hoa tức là pháp hữu vi, nhưng đóa hoa có được là do hiện tượng duyên sanh của bản thể chân như tạo thành. Bản thể chân như là bản thể không sanh, không diệt, không dơ, không sạch, không tăng, không giảm của vạn pháp trong vũ trụ nầy. Như vậy bản thể chân như chính là “cái không” và cũng chính cái không lại sinh ra tất cả, tức là “cái có”. V́ nhận thức được sự hư giả của pháp hữu vi, nên cổ nhân có bài kệ rằng:
Nhất thiết hữu vi pháp,
Như mộng, huyễn, bào, ảnh,
Như lộ diệc như điện,
Ưng tác như thị quán.
Dịch là
Tất cả pháp hữu vi,
Như mộng, như huyễn, như bọt, như
bóng,
Như sương, như điện chớp,
Nên quán tưởng như thế.
Chữ “tất cả” tức là nhất thiết th́ bao gồm cả trời, người, thần, súc sanh,, ngạ quỷ và địa ngục.
Ngũ uẩn: sắc, thọ, tưởng, hành, thức là pháp hữu vi. Thân tứ đại: đất, nước, gió, lửa là pháp hữu vi. Sáu căn: mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ư là pháp hữu vi. Sáu trần: sắc, thanh, hương, vị, xúc, pháp cũng là pháp hữu vi. Nói chúng tất cả những ǵ chúng ta nhận biệt được qua ngũ quan đều là pháp hữu vi cả.
Mộng là cơi mơ. Đời người là mộng v́ chúng ta đang ở trong cảnh mộng mà nằm mơ đến khi tỉnh lại th́ không nhớ được ǵ. Tại sao vậy? Bởi v́ chúng ta vừa ra khỏi cảnh mộng của kiếp quá khứ, lại tức khắc đi vào cơi mộng của kiếp nầy cho nên chuyện ǵ trong quá khứ cũng không nhớ ra được.
Huyễn là hư huyễn, là không thật, là ảo vọng. Nếu chúng ta thấu hiểu Phật pháp th́ biết rằng tất cả vật thể trong cái thế giới nầy là hư ảo, không thật bởi v́ tất cả chỉ là do nhân duyên ḥa hợp mà có.
Bọt th́ hư ảo chẳng thật, c̣n bóng tức là ảnh của một h́nh tướng cũng như bóng người to nhỏ th́ tùy theo thân người. V́ có h́nh mới có bóng cho nên h́nh là thật và bóng là hư giả.
Buổi sáng sớm vào lúc thức dậy chúng ta thấy trên cỏ c̣n đọng lại những giọt sương. Nhưng khi mặt trời ló dạng, ánh nắng chiếu xuống th́ sương tan, không c̣n nữa. Và điện chớp là hiện tượng thoáng qua, bất thường.
Do đó, khi quán theo như thế th́ chúng ta sẽ thấy biển rộng trời cao và tâm lượng của chúng ta biến thành bao la rộng lớn, không c̣n ǵ ràng buộc và không có ǵ làm trở ngại bởi v́ tất cả mọi sự vật chỉ là như mộng huyễn, như bọt bóng, như sương, như điện chóp mà thôi.
Tuy pháp hữu vi là giả nhưng con người lúc nào cũng tin là thật, là chắc chắn bền lâu cũng tại v́ “cái chấp” mà ra.
Ngày xưa lúc Tổ thứ năm của Thiền Trung Hoa là Hoằng Nhẫn (602-675) v́ tuổi đă già muốn t́m người để truyền Tổ vị th́ có vị cư sĩ Lư Huệ Năng từ phương Nam đến yết kiến. Ngũ Tổ hỏi:
- Ngươi muốn cầu việc ǵ?
Hưệ Năng thưa:
- Đệ tử chỉ muốn cầu làm Phật.
Tổ hỏi:
- Người phương Nam không có Phật tánh th́ làm sao thành Phật được?
- Huệ Năng thưa:
- Người th́ có Nam Bắc, Phật tánh há có Nam Bắc sao?
Trong số hơn 700 đệ tử, th́ thượng tọa Thần Tú là đệ tử giỏi nhất nên sau khi nghe ư của Tổ muốn truyền vị bèn làm một bài kệ như sau:
Thân thị Bồ-đề thọ
Tâm như minh cảnh đài
Thời thời thường phất thức
Vật sử nhạ trần ai.
Dịch là:
Thân là cội Bồ-đề (chấp có tướng)
Tâm như đài gương sáng (chấp có tướng)
Luôn luôn phải lau chùi (chấp có tu)
Chớ để dính bụi trần. (chấp có chứng)
V́ mỗi câu đều có chấp, chứng tỏ ngài Thần Tú chưa ngộ được tính không của Kim Cang Bát Nhă nên bị Tổ Hoằng Nhẫn chê là :”C̣n đứng ngoài hàng rào”. Trong khi Lư Huệ Năng làm bài kệ đối như sau:
Bồ-đề bổn vô thọ
Tâm phi minh cảnh đài
Bổn lai vô nhất vật
Hà xứ nhạ trần ai.
Dịch là:
Bồ-đề không phải cây (không chấp có tướng)
Chơn tâm không phải đài (không chấp có tướng)
Xưa nay không một vật (không chấp ḿnh tu)
Chỗ nào dính bụi trần (không chấp ḿnh chứng
quả)
Do chỗ đă ngộ được Lư Không trong kinh Kim Cang Bát Nhă để phá trừ chấp ngă và chấp pháp mà Ngài Huệ Năng trở thành Lục Tổ và cũng là vị Tổ sau cùng của Phật giáo Trung Quốc.
V́ có chấp cho dù đó là chấp “Có” hay chấp “Không” cũng đều là vọng chấp cả nên không thể chứng được đạo Bồ-đề. Bởi thế Phật có dạy rằng:
Nhược nhơn dục thức Phật cảnh giới
Đương tịnh kỳ ư như hư không.
Dịch là:
Nếu người muốn biết cảnh giới Phật
Tâm phải thanh tịnh như hư không.
Trong thế giới hiện nay chúng ta thấy Luật nhân quả hiển hiện khắp mọi nơi. Con người gây ra ác nghiệp bây giờ không cần đợi qua đến kiếp sau mới thấy cái quả mà nó xảy ra liền trước mắt của họ trong đời nầy. Cái quả báo nhăn tiền nầy nhà Phật gọi là Hiện báo nghiệp. Thêm nữa Luật Nhân quả đối với nhân sinh vũ trụ đều thuộc về pháp hữu vi cho nên tât cả đều bị chi phối bởi thời gian, tức là thành, trụ, hoại, không của thế gian. Có nghĩa là “cái Có” rồi nó sẽ trở về với “cái Không”. Thí dụ như cung thành Ca Tỳ La Vệ ngày xưa rực rỡ bao nhiêu mà trải qua mới mấy ngàn năm bây giờ chỉ c̣n lại vài cục gạch bể mà thôi. Khi vua Lư Công Uẩn xây dựng thành Thăng Long, tức Hà Nội bây giờ, cách nay khoảng 1000 năm mà gần đây các nhà khảo cổ đă đào được một khu làng đă bị chôn sâu vào ḷng đất. Thế th́ “thành, trụ, hoại, không” nói lên được tánh vô thường của vạn pháp. Thật vậy, trên đời nầy không có ǵ là vĩnh viễn trường cửu cả như ngày xưa Đ́nh Trưởng đă nói với Sở Bá Vương lần cuối cùng ở bến Ô Giang là:
“Mảnh trăng mới khuyết chưa tṛn,
Tay không Hạng Vơ lại hoàn tay không”.
Nếu nói Luật Nhân quả dựa trên yếu tố thời gian th́ Đức Phật đưa ra Lư Nhân Duyên dựa trên yếu tố không gian để khai thị cho con người thấu hiểu rằng tất cả mọi cấu tạo h́nh thành của vạn pháp là do nhân duyên ḥa hợp mà có. Không có một vật ǵ trên trái đất nầy hay trong vũ trụ mà tự nó phát triển hay tạo thành mà không có giúp đỡ của những nhân khác. Một chén cơm chúng ta ăn là do sự kết tập từ hạt lúa, đến phân bón, nước, ánh sáng mặt trời và tay vun trồng của người nông phu…chớ hạt lúa không thể tự nó biến thành lúa được. Chiếc áo chúng ta đang mặc là do bàn tay khéo của người thợ may, mà muốn có vải để may th́ cần có tơ lụa để dệt và tơ lụa th́ cần phải có người nông phu trồng bông vải…
V́ thế một nhân mà không có trợ duyên th́ sẽ vĩnh viễn không bao giờ thành quả. Nói tóm lại, không có một hiện tượng vật chất hoặc tinh thần nào trên thế gian nầy có thể tự nó sinh tồn mà không tùy thuộc đến những trợ duyên khác. V́ cần đến những duyên chung quanh nên nhân mới có cơ hội sinh khởi hay hủy diệt mà từ đó thuyết Duyên Khởi được ra đời. Hăy quan sát lại cái thân tứ đại của chúng ta. Chúng ta c̣n sống là bởi tim, gan, phèo, phổi hoạt động tương trợ cho nhau. Khi ăn uống vào th́ chúng ta cung cấp năng lượng cho các tế bào để hoạt động. Khi hít thở chúng ta đem dưỡng khí vào phổi để ḍng máu được lưu truyền mà nuôi toàn thân. Thận th́ thanh lọc và sa thải chất dơ để thân thể đủ sức đề kháng chống lại bệnh tật. Máu phải chuyển dưỡng khí lên óc làm cho hệ thống năo tủy họat động để chi phối mọi cơ năng của con người.
Nói thế th́ con người của chúng ta chẳng qua là do sự kết hợp của trùng trùng duyên khởi mà thôi. Bây giờ chúng ta nh́n xa một chút th́ chung quanh chúng ta từ đơn vị nhỏ là gia đ́nh cho đến xă hội và thế giới vũ trụ cũng thế. Sự sinh tồn và hủy diệt của vạn pháp trên thế gian nầy chẳng qua chỉ là sự kết hợp hay phân ly của những duyên khởi mà ra. Cái nhà chúng ta đang ở, cái xe chúng đang dùng hoặc thức ăn, áo quần hay vật dụng đều là những duyên khởi cả. Không có gạch, ngói, đá, xi măng và công thợ th́ làm ǵ có cái nhà? Không có sắt, thép, chất cao su và máy móc tân kỳ th́ t́m đâu ra chiếc xe hơi? Không có ruộng đồng, phân bón và công người nông phu th́ làm ǵ có cơm hay thức ăn thức uống cho chúng ta? Không có bông vải và hảng dệt cũng như bàn tay khéo léo của người thợ may th́ làm ǵ chúng ta có những bộ áo quần tốt? Không có những bộ óc khoa học kỷ thuật th́ làm ǵ có được những chiếc máy bay khổng lồ để chở chúng ta vượt qua Thái B́nh Dương về thăm quê hương? Nhưng tất cả cũng đều nằm trong quy luật:” Duyên kết th́ thành c̣n duyên tan th́ hoại”. Do đó luật nhân quả mà không có lư nhân duyên
hợp lại th́ không bao giờ thành tựu. V́ thế không gian vô tận và thời gian vô biên là dựa theo Luật nhân quả và Lư nhân duyên mà tạo thành thế giới vũ trụ nầy.
Vũ trụ th́ như thế c̣n sự sinh tồn của con người như thế nào?
Con người cũng như vạn vật có được là nhờ nhân duyên ḥa hợp tạo thành và khi nhân duyên tan ră là chết. Sự hạnh phúc hay khổ đau của con người cũng như vạn vật đă được gọi ghém rơ ràng trong Bát Nhă Tâm Kinh.

“Tham một thứ th́ nhiều thêm một thứ. Ít đi một vọng niệm th́ bớt đi một chút nghiệp và sẽ tăng thêm một phần giải thoát.”
Chúng sinh vô-biên thệ nguyện độ,
Phiền năo vô-tận thệ nguyện đoạn,
Pháp môn vô-lượng thệ nguyện học,
Phật đạo vô-thượng thệ nguyện thành.
Nam Mô A Di Đà
Phật