
"HIỆN
TẠI SÁCH VÀ CD GIẢNG GIẢI KINH DUY MA CẬT đă được đưa vào mạng. Quư Phật tử có thể:Nghe kinh với giọng đọc Nguyên Hà trong phần
Pháp Âm. Đọc toàn bộ kinh
trongphần
Kinh Sách".

Lời Giới Thiệu
Thưa quư vị!
Xin trân trọng giới thiệu đến quư Phật tử xa gần trang nhà Ánh Đạo Vàng.
Khi thực hiện trang nhà nầy, chúng tôi chỉ có một tôn chỉ duy nhất là đem ánh đạo vàng của Đức Thế Tôn đến với mọi người. Sống trong thế gian chúng ta đă khổ về thân mà tâm bệnh như tham lam, giận hờn, si mê, mạn nghi, tà kiến…đă làm cuộc đời vốn đă khổ càng thêm khổ đau. Những hạnh phúc tạm bợ, những dục lạc nhất thời đă làm tâm của chúng ta mê muội để đưa đẩy con người lún sâu vào ṿng sinh tử Luân hồi. V́ sống trong vô minh nên con người tin chắc thân ḿnh là thật, thế gian vũ trụ cũng là thật nên từ đó mới tạo tác, giữ ǵn khiến cho tham-sân-si tha hồ phát khởi và thân-khẩu-ư cũng v́ thế mà tác tạo ra nghiệp để phải chịu quả khổ đời đời. Nhưng khi xuôi tay nhắm mắt th́ thân nầy phải bỏ lại, tiền tài công danh cũng chẳng thể mang theo. Anh em, cha mẹ, vợ chồng, con cái, bạn bè…cho dầu có thương cách mấy cũng chỉ tiễn đưa chúng ta tới nghĩa trang là hết. Cái mà con người chắc chắn sẽ mang theo là tội nghiệp và những chủng tử của nghiệp nầy sẽ định đoạt định mệnh cuộc đời của chúng ta mai sau. Chân lư của Đức Phật là những liều thuốc nhiệm mầu để trị tâm bệnh của tất cả chúng sinh ngỏ hầu biến cuộc đời giả tạm khổ đau thành ra cảnh giới an vui tự tại. Để đánh tan những vọng thức mê lầm mà tin rằng thân ḿnh là thật Có và nhân sinh vũ trụ cũng là thật Có, Đức Phật dạy rằng:’Phàm sở hữu tướng, giai thị hư vọng. Nhược kiến chư tướng, phi tướng tức kiến Như Lai” nghĩa là trên đời nầy cái ǵ mà có h́nh tướng, kích thước, màu sắc, hương vị, ngay cả lời nói, ngôn ngữ…đều là giả huyễn, là sinh diệt, là không thật. Chỉ khi nào chúng sinh thấy được thật tướng bên trong của vạn pháp là Không tướng th́ chúng ta mới thấy được Chân Lư, tức là thấy được Như Lai. Tâm Phật và tâm của chúng ta thật ra không hề khác nhau. Tâm Phật ví như mặt nước hồ thu yên tĩnh mà trên đó ánh trăng Chân lư phản chiếu một cách toàn vẹn trong khi tâm của chúng ta th́ giống như mặt nước đang bị các làn sóng vô minh khuấy động không thể phản chiếu được ǵ. V́ thế sau khi chứng ngộ dưới cội Bồ-đề, Đức Phật Thích Ca đă thốt lên rằng:’Thật kỳ diệu thay trong tất cả mọi chúng sinh đều có Phật tánh như nhau, nhưng trải qua bao kiếp sống luân hồi, tâm thức của con người đă bị cái vỏ cứng vô minh che phủ nên họ không nhận thức được cái Phật tánh toàn vẹn trong sạch hoàn hảo kia.”.
Thật vậy, trong tất cả chúng ta không phân biệt là người Việt, người Tàu, người Tây hay người Mỹ đều có sẳn cái Phật tánh thanh tịnh bản nhiên. Cái Phật tánh nầy chính là Pháp thân mà ở Phật cũng không tăng và ở chúng sinh cũng không giảm. Phật tánh hay Pháp thân th́ lúc nào cũng thanh tịnh, nhưng vô minh vọng chấp che lấp Phật tánh khiến con người sống trong điên đảo, khổ đau. Thí dụ như sáu căn là mắt, tai, mũi, lưỡi, thân và ư th́ tự nó luôn luôn thanh tịnh. Nhưng khi tiếp xúc với ngoại trần liền bị đắm nhiễm. Cũng như con mắt th́ tự nó thanh tịnh, không ô nhiễm nhưng khi mắt nh́n thấy nhà đẹp, hoa xinh, xe tốt th́ tâm liền phân biệt tạo thành ư niệm ham muốn. Ham muốn là tham tức là ô nhiễm. Ngay cả lục trần tức là sắc, thanh, hương, vị, xúc, pháp tự nó cũng có bản nhiên thanh tịnh, không ô nhiễm. Thí dụ như cành hoa đâu có mê hoặc ai đâu? Mê sắc là tại người chớ đâu phải tại hoa. Ngay cả rượu có làm ai say đâu? Thế mà con người chết lên chết xuống cũng v́ rượu. Do đó nếu con người biết ĺa vọng chấp, sáu căn thường sáng tỏ, không dính mắc nơi sáu trn th́ tâm đợc thanh tịnh tức là thấy được Pháp thân hay Phật tánh hiện bày.
Ngày xưa ngài Huệ Tịch tới chỗ Thiền sư Trung Ấp thưa rằng:
- Bạch Ḥa thượng! Thế nào là Phật tánh?
Ngài Trung Ấp nói:
- Ta không nói thẳng được nhưng dùng thí dụ nầy cho ông tạm hiểu: Như có con khỉ nhốt trong lồng có sáu cánh cửa. Bên ngoài một con khỉ khác tới kêu “Chéo! Chéo” th́ con khỉ trong cũng đáp lại:”Chéo! Chéo” . Cứ như vậy con khỉ bên ngoài tới cửa nào cũng kêu th́ con khỉ bên trong đều đáp lại hết.
Ngài Huệ Tịch liền hỏi lại:
- Bạch Ḥa thượng! Nếu con khỉ bên trong ngủ th́ sao?
Thiền sư Trung Ấp từ trên ṭa bước xuống nắm lấy vai Huệ Tịch mà nói:
- Chúng ta hiểu nhau rồi.
Khi lục căn tiếp xúc với lục trần mà lục căn chạy theo lục trần th́ sanh vọng thức mê lầm và con người sẽ sống trong điên đảo khổ đau. C̣n nếu lục căn yên lặng không bị lục trần quyến rủ th́ có tâm thanh tịnh. Tâm thanh tịnh là chơn tâm, là Phật tánh vậy.
Trong Kinh A Di Đà, Phật dạy rằng:
- Hoặc một ngày, hai ngày, ba ngày… cho đến bảy ngày niệm mà không niệm đến chỗ nhất tâm bất loạn th́ Phật hiện tiền. Cũng như đi, đứng, nằm, ngồi mà tâm hằng thanh tịnh, không một chút vọng niệm khởi th́ Phật tánh hiện tiền.
Phật tánh tc là tự tánh A Di Đà. Bởi v́ Phật A Di Đà là Phật có vô lượng thọ và vô lượng quang. Mà tuổi thọ vô lượng là chỉ cho cái bất sinh bất diệt và vô lượng quang là ánh sáng trùm khắp vô cùng vô tận mà Kinh Lăng Nghiêm gọi là Chơn Tâm, Kinh Pháp Hoa gọi là Tri Kiến Phật, Kinh Niết Bàn gọi là Phật Tánh, Kinh Hoa Nghiêm gọi là Trí Huệ Phật, Kinh Viên Giác gọi là Như Lai Viên Giác Diệu Tâm. Đây chính là tự tánh thanh tịnh bản nhiên tức là cái bản lai diện mục nghĩa là gương mặt thật sẳn có muôn đời của chúng ta mà lâu nay con người cứ lầm lẫn cho nó ở ngoài ḿnh nên măi rong ruỗi t́m cầu. Tu Thiền hay tu Tịnh độ th́ cứu cánh không khác chỉ v́ chúng sinh mắc kẹt trên h́nh thức nên thấy có sự sai khác. Ở Ấn Độ tuy cũng có nhiều tông phái khác nhau và người tu tuy áp dụng những phương pháp khác nhau nhưng bản ư là cùng nhau hướng về giải thoát giác ngộ. Trong khi đó ở Trung Hoa và ở Việt Nam th́ môn đồ của Thiền và Tịnh bài xích nhau chẳng khác cừu thù. Học Phật, tu Phật như thế không thể chứng ngộ v́ con người c̣n mắc phải quá nhiều bệnh cố chấp.
Thật vậy con người có sự phân biệt tông nầy, phái nọ nhưng chân lư Phật pháp vốn không sai biệt. Phải biết rằng một câu niệm Phật hay câu tŕ chú chỉ là phương tiện chớ không phải là cứu cánh. Người mới học Phật pháp lại phát sinh ra nhiều ư kiến, phân chia tông nầy phái nọ, rồi khen ḿnh chê người làm tổn hại giá trị giáo hóa vi diệu của Phật pháp.
Có người hỏi rằng Thiền chú trọng về tự lực trong khi tịnh độ th́ chú trọng vào tha lực. Mà tự lực và tha lực th́ làm sao giống nhau?
Thật ra tâm Phật và tâm của chúng sinh không hề khác nhau. Tâm Phật là Phật tánh th́ từ vô thủy đến nay vốn không sinh diệt, không h́nh tướng, không thuộc Có Không. Cái linh tri ấy có đủ bốn đức là Thường, Lạc, Ngă, Tịnh. Bởi v́ cái linh tri nầy không sanh không diệt nên nói là Thường, lúc nào cũng an nhiên tự tại nên gọi là Lạc, là chủ sinh ra muôn pháp nên gọi là Ngă và không bị cấu nhiễm nên gọi là Tịnh. Chỉ v́ chúng sinh cứ chấp vào Tướng mà đi t́m tâm ở bên ngoài nên Phật và chúng sinh mới xa cách muôn trùng v́ ta và tha nhân là hai thực Thể khác nhau.
Nên biết rằng Tịnh độ không những chú trọng đến tha lực mà đ̣i hỏi cả công phu về tự lực nữa. Nguyên tắc căn bản của Tịnh độ là phải biết nghiêm tŕ sáu căn: mắt, tai, mũi. lưỡi, thân, ư và ba nghiệp tức là thân, khẩu, ư cho thật thanh tịnh để lúc niệm Phật được nhất tâm. Đó là phần tự lực. Do đó khi niệm hồng danh Phật A Di Đà mà tâm không hề có vọng tưởng th́ con người sẽ cảm thông được với chơn tâm hay Phật tánh của chư Phật trong mười phương Pháp giới. Chúng sinh từ vô thỉ đến nay đă gây ra biết bao tội nghiệp. Cho dù công phu tu tập đến đâu cũng khó trong một đời mà giải trừ được hết nghiệp chướng nên phải nương nhờ oai lực ở câu niệm Phật để tiêu trừ bớt nghiệp ngỏ hầu giúp cho tín căn và tín lực gia tăng mà được văng sanh. Đó là phần tha lực.
Chúng ta bây giờ tự hỏi Tổ Bồ-đề Đạt Ma ngồi quay mặt vô tường suốt chín năm để suy gẫm điều ǵ?
Phải chăng ngài gẫm thấy tâm tức là Phật, Phật tức là chúng sinh. Khi mê th́ có chúng sinh, có Phật nhưng khi ngộ th́ Phật và chúng sinh vốn nào có khác. Phật tánh, chơn tâm th́ không nhơ, không sạch, không sinh không diệt. Ở chúng sinh nó không tăng mà ở Phật nó cũng không giảm cho nên Ngài vượt thoát ra khỏi mọi phiền năo khổ đau, ra khỏi sinh tử luân hồi mà đạt đến Niết bàn giải thoát.
Có người lại thắc mắc rằng tại sao Tổ Bồ-đề không hề nói đến Phật A Di Đà hay cơi Tây phương Cực lạc?
Thật vậy. Nhưng nghĩ lại là nếu có người dân quê hiền lành chất phác đến nghe Pháp mà Tổ lại giảng về lư Không, pháp Tánh, pháp Tướng hay nguyên lư Bất nhị th́ những điều nầy đâu có ư nghĩa ǵ đối với họ. Phải chăng đó là những danh từ trừu tượng trống rỗng, không thể hiểu và không có lợi ích ǵ? Nhưng nếu giảng cho họ về Đức Phật A Di Đà và những hạnh nguyện tiếp dẫn của Ngài để được về cơi Tây phương Cực lạc th́ họ sẽ hiểu, sẽ tin và phát tâm muốn được sanh về cơi đó. Nếu suốt ngày họ tŕ niệm danh hiệu Phật A Di Đà, biết chú tâm vào hồng danh nầy khi làm việc, lúc nghĩ ngơi cho đến lúc nhất tâm bất loạn th́ cái ảo ảnh nhị nguyên của vô minh, cái tâm phân biệt, có chúng sinh có Phật sẽ chấm dứt và họ sẽ chứng ngộ được thực tại mầu nhiệm ngay. Dù chúng ta gọi nó là tha lực tiếp dẫn của Đức A Di Đà, gọi là thiền, gọi là mật, gọi là giáo th́ đâu có khác biệt ǵ đâu? Cái khả năng giải thoát mà con người cho rằng vốn ở bên ngoài tức là tha lực thật ra vẫn ở bên trong tức là tự lực th́ lúc nào vẫn sẳn có trong ta. Đó chính là cái tự tánh thanh tịnh bản nhiên vĩnh hằng trong tất cả mọi chúng sinh. Như thế khi hiểu rơ những chân lư nầy th́ tùy theo bản nguyện của mỗi người mà tu về thiền hay tịnh độ. Thiền cũng tốt mà Tịnh cũng hay. Ngay cả những vị Tổ của Tịnh độ cũng áp dụng phương pháp thiền tịnh song tu mà được văng sanh. Người học Phật nếu đọc qua cuốn “Tông Cảnh Lục” và “Muôn Thiện đồng quy” của Tổ Vĩnh Minh hay trong”Bồ-tát Đại Thế Chí niệm Phật viên thông” th́ Tịnh độ cũng phát xuất từ tự tánh, xả bỏ vọng tưởng, quay về nguồn chân nên chớ hướng ngoại t́m cầu. Nếu chúng sinh niệm danh hiệu Phật A Di Đà để dẹp trừ vọng tưởng, chấp trước th́ mỗi câu niệm sẽ quét sạch vọng tưởng làm tâm thanh tịnh. V́ thế kinh mới có câu:”Duy tâm tịnh độ, tự tánh Di Đà” là vậy. Như thế th́ cái mà Tổ Bồ-đề Đạt Ma chứng trong lúc ngồi thiền và người dân quê hiền lành chất phác chứng ngộ trong khi niệm hồng danh Phật A Di Đà có khác ǵ nhau. Thiền gọi nó là Minh Tâm Kiến Tánh trong khi Tịnh gọi là Nhất Tâm Bất Loạn th́ cùng một ư nghĩa tức là họ đă thấy được Phật tánh, chơn tâm hay tự tánh thanh tịnh bản nhiên của ḿnh vậy thôi.
Phải biết rằng Thiền, Tịnh, Mật đều là những con đường khác nhau, phương tiện khác nhau nhưng đều dẫn đến một mục đích là giải thoát giác ngộ. Thí dụ nếu chúng ta nh́n từ đỉnh núi xuống th́ có vô số con đường dẫn lên núi nhưng nếu từ chân núi nh́n lên th́ chỉ có một đỉnh núi cao mà thôi. Cũng như không có một viên thần dược nào trên thế gian có thể trị trăm ngàn bệnh nên Đức Thế Tôn mới chế ra tám mươi bốn ngàn pháp môn khác nhau để tùy theo căn cơ, tâm bệnh của mỗi chúng sinh mà ứng dụng. Tịnh độ tông hay niệm Phật A Di Đà là phương pháp tập trung tư tưởng để tŕ niệm hồng danh chư Phật cho đến chỗ nhất tâm bất loạn. Khi tâm không c̣n loạn động, không c̣n phiền năo và không c̣n điên đảo th́ sẽ có trí tuệ sáng suốt. Mật tông th́ cũng thế, thay v́ niệm hồng danh chư Phật th́ người tu tŕ thần chú, mật ngữ của chư Phật để đạt đến nhất tâm. Khi biết phối hợp âm thanh (chú) với cử chỉ (ấn quyết) và tâm ư (Tam Ma Địa) th́ đạt được tam mật tương ưng tức Thân, Khẩu, Ư được thanh tịnh. Khi không c̣n vọng niệm, đạt đến trạng thái như như bất động th́ làm ǵ c̣n phiền năo. Sau cùng Thiền là phương pháp sử dụng trí tuệ bằng cách nh́n thẳng vào thực tánh của vạn pháp. V́ vạn pháp giai không duyên sanh như huyễn nên trên đời nầy đâu có cái ǵ thật đâu mà phải quan tâm, bận ḷng. Khi tâm không loạn động th́ sẽ có Định. Mà có Định th́ phiền năo không c̣n, khổ đau tan biến. Tóm lại về mặt h́nh thức tuy có khác nhưng tựu trung ba phương pháp cũng đều quay về để diệt trừ vọng niệm, dứt sạch mọi phiền năo để chấm dứt khổ đau và giải thoát ra khỏi sinh tử luân hồi. Đây chính là nhất chân pháp giới hay nguyên lư nhất như tức là một là tất cả và tất cả là một vậy.
Ngày nay rất nhiều người tu Tịnh độ, lễ bái rất chuyên cần mà vẫn không đạt kết quả bao nhiêu? Họ đi chùa lễ Phật , tham dự nhiều Phật thất năm nầy qua năm khác mà chứng nào vẫn tật nấy…Tại sao?
Đối với Tịnh độ th́ người tu phải nắm vững những nguyên tắc căn bản rất quan trọng là chí tâm chí thành mà thường được gọi là Tín, Hạnh, Nguyện thay v́ thực hành như một thói quen máy móc nên không có kết quả bao nhiêu.
Đối với pháp môn Tịnh độ th́ người tu không những chú trọng đến tha lực (Phật lực A Di Đà) mà công phu về tự lực cũng không kém quan trọng. Quy tắc căn bản về pháp môn niệm Phật là phải biết nghiêm tŕ sáu căn: Mắt, Tai, Lưỡi, Mũi, Thân, Ư và ba nghiệp: Thân, Khẩu, Ư cho thật thanh tịnh để đánh tan tất cả mọi vọng thức mê lầm th́ khi niệm Phật mới có được nhất tâm. Nhất tâm là tâm không c̣n vọng tưởng dù chỉ là một vọng niệm và đây chính là chân tâm, là Phật tánh, là bản lai diện mục của tất cả mọi người. Đây chính là phần tự lực mà con người phần lớn bỏ quên đi không chú ư đến. Khi niệm Phật, hành lễ mà thấy tự tâm tha thiết mạnh mẽ, không hề có vọng tưởng th́ có thể cảm thông được với chân tâm của chư Phật trong mười phơng Pháp giới. Thật ra tâm Phật và tâm của chúng sinh không hề khác nhau, đều cùng mt Bản Thể, nhưng v́ chúng sinh chưa ư thức được điều nầy v́ c̣n bị vô minh che phủ nên mới có sự phân biệt, xa cách. Nghiệp chướng mà con người đă gây ra trong bao nhiêu đời, bao nhiêu kiếp thật khó mà tiêu trừ trong đời nầy cho dù chúng ta là người đắc đạo. V́ thế chúng sinh phải nương nhờ vào oai lực của sáu chữ Nam Mô A Di Đà Phật để giải trừ bớt tội nghiệp mà tự tạo cho ḿnh một niềm tin mănh liệt để được văng sanh vào cơi Cực Lạc của Phật A Di Đà. Đó là phần tha lực.
C̣n về phần tự lực th́ khi người niệm Phật th́ họ biết giữ sao cho mắt đừng bị chi phối bởi ngoại cảnh, đừng nh́n ngang nh́n dọc làm cho tâm sinh loạn tưởng. Muốn tâm được thanh tịnh th́ phải biết làm chủ sáu căn của ḿnh. Khi niệm Phật th́ mắt chỉ chăm chú nh́n lên tượng Phật hoặc giữ h́nh ảnh của Phật A Di Đà trong tâm mà thôi. Mắt không nên nh́n chung quanh rồi tâm sinh vọng động để rồi suy nghĩ, lo lắng đủ điều th́ làm sao có thể đạt được trạng thái nhất tâm bất loạn được. Niệm tới đâu phải biết tới đó, niệm một câu biết một câu, niệm mười câu biết mười câu chớ không lầm lẫn hoặc lầm lạc. Khi niệm Phật đừng để cho tai nghe những tiếng động khác chung quanh mà làm cho tâm ư khởi vọng động. Các căn c̣n lại như mũi, lưỡi, thân, ư cũng phải kiểm soát như thế th́ vọng động không xen vào trong tâm thức của người niệm Phật. Khi tất cả sáu căn được thu nhiếp và được đặt dưới sự kiểm soát của tâm để không c̣n vọng động, không c̣n loạn tưởng th́ đạt được Nhất Tâm Bất Loạn tức là chơn tâm. Người tu thiền th́ cũng áp dụng câu:”Ưng vô sở trụ nhi sanh kỳ tâm” tức là đừng cho tâm dính mắc nơi sáu trần. Như thế th́ Chánh Niệm của Tịnh và Thiền có khác ǵ nhau.. Phương tiện tuy có khác nhưng mục đích vẫn là một. Trong ba nghiệp th́ Ư Nghiệp là mạnh nht. Ư là nhân mà thân khẩu là quả của nó. V́ thế đối với người tu Tịnh độ th́ ít ai có thể kiểm soát được nên người niệm Phật phải trông vào tha lực của chư Phật hộ tŕ cho. Nu người niệm Phật chí tâm chí thành niệm danh hiệu Phật A Di Đà th́ tâm vọng tưởng, tâm điên đảo, tâm nghĩ ngợi lung tung sẽ từ từ tan biến và được thay bằng bản tâm thanh tịnh. Oai lực của sáu chữ hồng danh rất lớn, bất khả tư ngh́ cho nên nếu người niệm Phật nhất tâm tŕ tụng th́ có thể khắc phục được Ư Nghiệp của ḿnh. Khi ba nghiệp Thân-Khẩu-Ư được thanh tịnh, sáu căn không c̣n dính mắc th́ trí tuệ sáng suốt và chắc chắn sẽ được văng sanh về cơi Tây phương Cực Lạc.
Tóm lại pháp môn Tịnh độ bao gồm cả tự lực lẫn tha lực, tuy giản dị nhưng công năng vô cùng huyền diệu. Muốn tu theo pháp môn nầy mà không nắm vững quy tắc căn bản là nghiêm tŕ sáu căn và ba nghiệp th́ cho dù họ có đọc tụng thiên kinh vạn quyển, niệm muôn trùng biến th́ cũng chẳng có lợi ích bao nhiêu. Rất nhiều người cho rằng tu Tịnh độ chỉ trông nhờ vào tha lực tiếp dẫn của Phật A Di Đà mà thôi th́ cũng là một thiếu sót. Bởi v́ thiếu tự lực th́ không thể được nhất tâm. Mà không nhất tâm th́ làm sao thông cảm được với chân tâm của chư Phật. Thêm nữa, một số người niệm Phật để cầu phước hay để xin xỏ việc nầy việc nọ th́ cũng là đi ngược lại với đường lối của Tịnh độ bởi v́ niệm Phật mà thiếu tâm thành chỉ mong cầu nầy nọ tức là tâm vẫn c̣n tham th́ làm sao có kết quả được. Đối với người tu Tịnh độ th́ họ không cần xin ǵ ngoài việc văng sinh về cơi Tây phương mà thôi.
V́ Tịnh độ bao gồm cả tự lực và tha lực nên Tịnh gồm cả Thiền và Mật. Đó là người tu phải ư thức hành vi cử chỉ của ḿnh và vừa tha thiết niệm hồng danh Phật A Di Đà để cầu văng sinh. Pháp môn nầy do chính Đức Phật Thích Ca nói ra và chư Phật mười phương đều tán thán. Ngay cả Bồ-tát Di Lặc chỉ c̣n một đời nữa sẽ thành Phật mà c̣n ngày đêm hành lễ th́ đủ biết tầm quan trọng và công năng của nó như thế nào.
Hiện tại chúng tôi đă phát hành ba bộ sách và CD: Phá Mê Khai Ngộ, Thanh Tịnh Tâm và Vô Thượng Niết Bàn. Sách Thanh Tịnh Tâm đă được tu chính và tái in lần thứ nh́ cuối năm 2007. Sách Phá Mê Khai Ngộ cũng đă được hoàn chỉnh vào tháng 3 năm 2008 và hy vọng sẽ được tái in lần thứ tư trong năm nay.

Chúng tôi đang viết và sắp hoàn tất bộ Duy Ma Cật Sở Thuyết Bất Khả Tư Ngh́ Kinh. Sách lược giảng rất dễ hiểu. Đây là bô kinh rất quư báu và rất cần thiết chẳng những cho Phật tử tại gia mà cũng là kim chỉ nam cho hàng Tăng sĩ.
Kính mong quư Phật tử t́m xem và t́m đọc nhiều lần những bộ sách và CD nầy để gạn lọc tất cả những vọng thức mê lầm, đánh tan tâm phân biệt chấp trước và quay về sống với Chân tâm, với Phật tánh thanh tịnh vĩnh hằng trong tất cả chúng ta. Có biết đạo, có hiểu đạo và sống với đạo tâm thanh tịnh th́ cũng như chúng ta đă “Thân tuy ở cơi Ta Bà Mà ḷng đă gửi bên ṭa hoa sen.”
Kính chúc quư vị và gia quyến được vô lượng an lạc và sớm viên thành Phật đạo.
Nam Mô A Di Đà Phật
Lê Sỹ Minh Tùng
Chúng sinh vô-biên thệ nguyện độ, Phiền năo vô-tận thệ nguyện đoạn, Pháp môn vô-lượng thệ nguyện học, Phật đạo vô-thượng thệ nguyện thành.
Nam Mô A Di Đà Phật